Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

XÓM NGHÈO


XÓM NGHÈO

Hai người học cùng lớp. Tốt nghiệp, anh định học lên cao học, chị đi dạy. Đùng cái, thiệp hồng được chuyển đi cho những người bạn thân sơ gần xa. Đùng cái, cưới. Đùng cái, ông xã, bà xã. Nhanh. Nói như ông bà xưa “cưới vợ thì cưới liền tay…”. Cũng phải thôi. Yêu là cưới. Nhưng. Nhưng hai người vừa ra trường, công ăn việc làm còn tạm bợ chứ chưa đâu vào đâu. Gia đình hai bên lại chẳng có gì làm khá giả. Đằng anh thì cha mẹ chỉ đủ ăn, có bận còn phải bỏ xứ bắc kì vào tận Tây nguyên làm thuê nghề thợ mộc, việc vặt cho xưởng gỗ; nhà chị thì cũng khá giả, cha mẹ buôn bán có đồng ra đồng vào. Nhưng, nhà chị có năm anh em, ba người còn đi học đại học, cha chị lại vừa bị bạo bệnh, di chứng tai biến mạch máu não còn đó. Mẹ chị còn bao vất vả với gánh nặng cơm áo. Là con gái, chị cũng muốn được lo chút gì đó cho em, cho cha mẹ trước khi xuất giá, nhất là chị còn trẻ. Hai ba tuổi, vừa ra trường, đi dạy hợp đồng ở một trường có tiếng của thành phố ấy. Nhưng sao?. Sao mà vội vàng. Thiệp hồng. Chắc là vỡ kế hoạch. Bạn bè vừa mừng vừa lo cho anh chị. Mừng thì ít mà lo thì nhiều. Mừng vì tình yêu bốn năm đơm hoa kế trái. Họ yêu nhau thắm thiết. Tình yêu đầu đời của cả hai người. Nhưng lo nhiều hơn. Vì hai người đi vào đời bằng chính sức mình, còn thiếu thốn nhiều lắm. Kinh tế chưa có gì nếu không muốn nói là tay trắng. Ngày cưới, trên mắt hai người ngợp hạnh phúc nhưng ẩn sau nụ cười rạng rỡ ấy chính là niềm lo đau đáu ít ai biết. Các bậc sinh thành bộc phải vào dựng vợ gả chồng cho các con mà lòng không khỏi trách móc và lo lắng. “Chúng còn non dại lắm”, mẹ chị nói với bố anh. Đám cưới nhỏ ở một nhà hàng nhỏ của thành phố nhỏ ấy đơn giản như một bữa tiệc nội bộ báo hỷ. Chỉ thế thôi cũng làm anh chị chạy vạy kinh tế vất vả, cực nhọc vay mượn vì hai gia đình không hỗ trợ được là bao, chỉ có món quà nhỏ trao cô dâu khi làm lễ. Ngoài ra không có chút tiền mặt nào.

Năm tháng sau chị sinh bé Tẹt. Mọi người biết được lý do của cái đám cưới bất ngờ không một lời thông báo trước ấy. Chị nghỉ dạy vì sinh con. Lại trong thời gian làm hợp đồng nên chị không được phân lớp tiếp. Cũng có nghĩa là nghỉ dạy không phụ cấp. Anh rời thành phố ấy đến Sài Gòn. Anh kiếm tiền gửi lên nuôi con và vợ. Chị sinh, mẹ chồng vào chăm. Cũng may chị khỏe và bé ngoan. Hai tháng sau, chị bế bé Tẹt rời thành phố ấy xuống Sài Gòn ở với chồng trong căn phòng trọ nhỏ bé và tối tăm, cuối con hẻm bé xíu, chỉ toàn những người lao động, có khi phòng bên cạnh, chồng ghen vợ đốt cả phòng trọ làm ỏm tỏi con hẻm nhỏ. Bé Tẹt lớn lên trong con hẻm ấy. Năm tháng sau, chị xin được làm thư kí, trong một  trường trung học Quốc Tế. Công việc không có gì vất vả nhưng là trường bán trú, lại ở xa nhà trọ cả mấy chục kilomet nên hàng sáng chị thức dậy lúc 5h sáng, chuẩn bị cháo, đồ chuẩn bị cho anh gửi bé Tẹt bên nhà hàng xóm rồi chạy xe đi làm. Tối, 5h rưỡi mới tan sở, chị lại chạy xe về, tranh thủ ghé chợ mua thức ăn, về đón con, vừa trông con vừa nấu ăn. Có hôm, con Dream tàu lại dở chứng, chị đề không được, đạp máy sẩy chân đến chảy máu. Đi làm phải mặc váy ngắn mà chân lại mang thêm cục băng thương cũng kì, chị cứ để mảng da trơ trơ còn rớm đỏ thế đi làm. Không một tiếng kêu ca, phàn nàn. Kể cả những hôm đi làm bị xếp la, rồi kẹt xe… chị cũng không than vãn lấy một tiếng. Chị bảo: “tất cả vì con nên khó nhọc cũng thường. Thấy con mình lớn lên tươi cười hàng ngày là vui rồi”. Nhà cách trường xa là vậy, theo quy định phải có mặt ở trường lúc 6h 30p để đón học sinh, đi muộn một phút cũng bị giám thị bắt và trừ lương. Thế những chị chưa  một lần bị trừ lương vì đi trễ. Vì chị luôn thức dậy sớm, chị sợ đi muộn sẽ bị trừ đi một khoản tiền mà chính khoản đó chị dành mua sữa cho bé Tẹt.

Anh làm về muộn hơn, có khi 7h tối mới về. Hai lăm tuổi nhìn anh như già trước cả chục tuổi. Cái áo quăn tít sau đuôi tôm, cái quần đứt đường chỉ phía túi lòi ra cả túi quần màu trắng. Nhất là bàn tay anh, bàn tay vất vả của tháng ngày đập đá, phụ hồ. Bàn tay của sương gió phong trần dày dạn. Bàn tay của xương xẩu. Cứ ngỡ, mỗi bận chị cầm bàn tay chồng không thể không thương chồng. Và mái tóc. Ngày trước, tóc anh bồng bềnh che một phần cọng kính phía mắt nhìn trầm tư và bí ẩn. Bây giờ, mái tóc ấy đã dài và xồm lên vì nắng, nhìn anh thấy được sự vất vả, khác hẳn vẻ thư sinh của ngày đầu tôi biết anh, hồi tôi còn năm nhất, dịp đại hội lớp, anh đại diện cho khóa trước đến dự lớp tôi, hơn hai trăm đứa con gái lớp tôi ngơ ngác trước vẻ thư sinh, trầm ngâm của anh. Nhưng sau đó anh vui tính, đại biểu hát, anh chọn một ca khúc nhạc vàng buồn tênh. Cả lớp tôi ngồi ngẩn, tôi đã đề nghị anh hát một bài Sinh Viên hơn, trẻ trung hơn. Anh đã hát Niềm tin chiến thắng. Cũng hay, nhưng biểu cảm kém hơn bài nhạc buồn của anh tự chọn. Sau này chơi thân tôi mới biết đó là bài tủ của anh. Anh luôn đầy những bất ngờ. Có khi ở sự thâm trầm mà rất đỗi sôi nổi; không phải ai anh cũng nói cởi mở được lòng mình “chỉ những người biết nói chuyện anh mới nói”, anh nói vậy. Có những gã tào lao ba hoa anh không chịu mở lời, kiểu trăm voi bát xáo anh không thích. Anh luôn thực tế. Thực tế đến đi đập đá, phụ hồ thay vì đi làm hành chánh cho nhàn thân. Anh ghét nhất ở người đời là tính thực dụng. Với anh luôn có những nguyên tắc giữa cho và nhận, giữa làm và hưởng. Có thể đó là tính cứng nhắc lỗi thời của anh. Có thể sẽ dễ thở hơn nếu anh chịu nhập cuộc thay vì cá tính.


“Hà Giang mùa này đẹp tuyệt. Cái đẹp mùa xuân muộn, giống như cô gái quê đã chín tuổi, quá lứa nhỡ thì, nay có tý tình yêu hơi hướng đàn ông, nở phây phây ảnh đẹp ở từng chân thon, lưng mềm, má đỏ, môi chín, mắt lóng lánh và hơi thở nóng hôi hổi, rừng rực”. Nhìn chị vô tư chơi đùa với con môi rạng ngời, mắt long lanh tôi lại nhớ đến đoạn văn tả cảnh Hà Giang mùa cải vàng rực này. Cũng phải thôi, chị là gái một con lại làm ở môi trường giáo dục hiện đại, cũng thoải mái và khá nhàn so với năng lực của chị. Càng ngày thấy chị càng xinh ra, đúng là Gái một con. Nhiều lúc anh đi làm về ôm chị cái, chắc cũng chạnh thương vợ vừa đi làm cả ngày tối về lại lo con nhỏ, sáng dậy sớm hơn cả gà. Anh cũng bảo: “em đi theo ông giám đốc đó đi, anh thấy nó thương em mà”. Chị bảo: “Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm xông hương mặc người”. Thi thoảng hai người lại xưng hô tao – mày, bảo: “Thế cho thoải mái. Tự nhiên”. Nhìn vợ chồng chị chọc nhau thấy cũng vui, không sợ lấy chồng phải khổ như mẹ mình. Anh chị giờ chỉ còn lo kinh tế, tinh thần thì thế là sướng rồi. Trước đó, tôi luôn có ám ảnh, đàn ông chỉ làm khổ đàn bà. Như cả đời mẹ tôi hết trận đòn này lại sang trận chửi khác. Họ sống được với nhau trọn một nhà là vì các anh em chúng tôi. Tôi đã nghĩ, hạnh phúc có chăng trên đời là mộng. Nhưng có cái hạnh phúc giản đơn và gần gũi khác. Có cái ngọt ngào có thế xua đi mọi khó khăn, thiếu thốn. Như trong tự nhiên có những  bông hoa nở trên sỏi đá. Hay những bông nhành tầm gửi mơn mởn. Cả những nhánh lan rừng cheo leo, chênh vênh vẫn bung sắc màu hoa tô điểm cho núi rừng hoang vu thêm huyền diệu. Đời có những bí ẩn. Người có những thăng hoa. Bí ẩn của tình yêu làm thăng hoa tình người. Có lẽ cha mẹ tôi cũng có cái bí mật của tình yêu ấy mà tôi không biết, tôi chỉ thấy họ cãi nhau là khổ đau mà không biết có cái ngọt ngào khác. Cũng có thể có thương nhau và hạnh phúc với nhau họ mới giận hờn, có khi nặng lời, lỡ tay. Hạnh phúc không chỉ ở nụ cười. Cũng như muôn mặt cửa tình yêu. Ngồi nhà cũng có nhiều cửa số đó thôi. Tôi lặng im, thẫn thờ trong lòng dăng mắc như mớ bòng bong. Chỉ biết một điều chắc chắn rằng, có những giọt nước mắt của hạnh phúc tột cùng. Có cả nụ cười của đớn đau, trống rỗng đến vô cùng. Có những trống rỗng đầy đủ hơn cả. Và có những điều tim ta mới hiểu. Mắt nhìn chỉ thấy thôi chứ không thấu. Cảm giác có khi là ảo giác. Trực giác có khi lại rất tỉnh. Chân lý không phải đúng với mọi tình huống, hoàn cảnh. Những chênh vênh lại chứa đựng sự vĩnh cửu. Thế nên, tôi đã tin chênh vênh anh chị đã, đang trải qua sẽ làm cho gia đình của họ là vĩnh cửu. sẽ không một cảm dỗ nào làm lung lay được cái hạnh phúc nhỏ bé, tưởng như mong manh mà rất đỗi vững chãi ấy.

Căn phòng trọ khoảng tám mét vuông. Có gác xép. Toilet đã hỏng cánh cửa, mỗi khi nhà có khách chị lại nhịn tắm hoặc tắm vào lúc cả nhà đã đi ngủ. Sáng sớm dậy vệ sinh cũng phải nhẹ nhàng vì sợ đánh thức em bé. Thành ra ở nhà mình mà như tên trộm. Trời nắng, chiếc quạt cóc quay ù ù làm cho không gian nhỏ bé và chật hẹp ấy như ồn ào ra. Anh đi làm về hôm nào cũng tranh thủ đọc sánh. Anh có kiến thức rộng. Xưa đậu ba trường đại học, hai năm đầu thời đại học anh là lớp trưởng, sau đó mải đi làm thêm, anh ít lên lớp nhưng chẳng bao giờ chểnh mảng việc tự học. Phòng anh đầy sách, ngoài sách ra chả có gì. À, có cái gạt tàn thuốc. Thuốc làm bạn với anh trong những đêm khuya đọc sách. Nó cũng làm anh tỉnh ngủ. Ngày còn sinh viên, anh học giỏi Tiếng Trung, chữ Hán và chữ Nôm. Sách cổ anh đọc và hiểu ý người xưa rất thấu. Tôi học sau anh một khóa, hồi là khóa luận tốt nghiệp đề tài thơ cổ: Thơ vịnh sử trong Hồng Đức Quốc âm thi tập, anh là “cố vấn” của tôi. Chả thế mà thầy hướng dẫn khóa luận bảo: “Hướng dẫn em thầy rất sướng”. Tôi chỉ cười, lòng thầm cảm ơn anh.

Chị học không giỏi nhưng gái Bắc vốn khéo léo và chiều người yêu, giờ thì chiều chồng. Biết anh ham học chị bao giờ cũng khuyến khích anh: “Năm sau, bé Tẹt gửi nhà trẻ, em đi làm về, tối dạy thêm lớp nữa, anh không phải lo cho em và con. Hãy đi học tiếp”. Anh nghe vậy thấy anh vui ra mặt. Anh có ước nguyện học tiếp. Anh thích học. Xem đó như niềm vui, hạnh phúc và là chỗ dựa cuộc đời anh. Tính anh có phần như Thứ trong “Đời thừa” của Nam Cao, luôn xem mớ kiến thức dù nhỏ bé của mình hơn gấp mấy cái của cải hay địa vị của mấy thằng ít chữ. Thế nên anh khá ngông ngạo và kiêu căng, dù hiện tại anh chỉ là “thằng đập đá, thằng thợ hồ” (anh tự gọi mình). Người quanh xóm nghèo này, cả ông chủ mỏ đá… không gọi anh là Thằng Tuấn, mà gọi anh là Giáo sư. Anh hay cười. Trong lòng anh thì còn nhiều nợ làm trai lắm. Mỗi khi đi làm về nịnh con, anh lại nói: “Con chó con của bố. Thương nhất đời đó. Vì Chó con mà bố dang dở…”. Với con, dù bé Tẹt mới biết đi nhưng anh đã nghiêm khắc với nó. Lúc ăn cơm bé mà ho he, phá đồ ăn anh quát bé sợ ngồi im liền. Có khi chị đút cháo cho bé còn lè ra, anh quát, có khi đánh vào mông đủ đau, bé không dám lè ra nữa. Những lúc như thế anh bảo: “Thương cho roi cho vọt. Nghiêm khấc để nó lớn lên nên người”. Anh làm thế cũng đúng.

 Ở cái xóm nghèo này, có ba buồng trọ là ba cô ca ve, hôm nay thì dắt thằng này về, hôm sau lại thằng khác. Chị bảo: “Dân miền xuôi đấy em. Xinh thật nhưng làm cái nghề bẩn quá, sống thế dơ lắm”. Tôi đùa chị: “Em thấy ngày họ tắm, thay đồ đến mấy bộ sao ở dơ được. Chị cứ nói điêu”. Chị cười. Tính tôi vốn tếu, chẳng thế mà ngoài những lúc tiêu cực tôi luôn lạc quan và suy nghĩ tích cực đó sao. Tôi còn thấy được cả mấy cô ca ve phòng bên có thay ngày ba bốn bộ đồ thì cũng là thay đồ ngoài, còn áo con họ không thay, thậm chí hai ngày mới thay một lần. Có lẽ họ ngại giặt, hoặc họ nghĩ nó sạch sẽ, thơm tho nên xài thế cho tiện. Tình cảm với họ còn Tiện nữa là chuyện ăn mặc. Tiện anh nào là mấy cô chơi anh đó, có khi là Tiện cả với người đáng lẽ họ gọi bằng chú, bằng cha, không khéo bằng ông cũng nên. Chị bảo: “bọn này không có trai không chịu được hay sao ấy. Cô kia mới bị chồng bỏ, mấy hôm đã dẫn trai về phòng. Hôm nay thằng này, hôm sau cha khác. Thế mà bà mẹ cũng cho ở. Bà mẹ ấy cũng lạ. Không còn trẻ nhưng đã già yếu gì đâu. Còn khỏe mạnh thế kia, cứ ăn rồi nằm ở nhà chờ con gái theo trai mang tiền về xài chơi vậy đó”. “Chị lại cổ hủ rồi. Họ thay đồ ngày mấy lần chỉ để cho nhà chị ngắm chắc”. Mà chị đang vi phạm quyền tự do của người khác đấy. À, còn có vụ đó nữa à. Thôi được. Chấm hết.

Cuối tuần, mấy đứa trẻ xóm này hay chạy qua nhà chị chơi vớ bé Tẹt. Có hôm bé Mỹ Nhân (tên em là Mỹ Nhân nhưng ngoại hình em thì ngược lại, khuôn mặt chìm lẳn trong hai bờ môi cao vút, em không có cha. Em ở với mẹ) đang ngoan ngoãn ngồi chơi con búp bê với em Tẹt thì Khiêm chạy qua, đứng ngoài cửa, vừa mếu máo vừa đưa tay quẹt nước mắt, nước mũi vừa nói: “Tại bà đó. Tại bà mà tui bị đánh đòn nè”. Rồi Khiêm dơ tay xuống, vén áo lên, tụt quần xuống qua mông: đây nè, nhìn cho kĩ đi, ướm máu luôn đó”. Mỹ Nhân im thít, hình như cũng xót cho trận đòn của bạn. Khiêm đang cơn nư, nói tiếp: “Tại bà đó. Mai tui không được đi chơi nữa đó. Má tui cấm luôn”. Thì ra, Mỹ Nhân rủ bé Khiêm đi ra vườn hoang hái táo nên về bị má đánh đòn. Hai đứa trẻ này đã năm tuổi nhưng vẫn chưa đến trường học mẫu giáo. Chúng chỉ ở nhà chơi với nhau. Không biết hè này các em có được vào lớp một, nếu được vào lớp một thì các em có theo kịp các bạn khác. Xóm nghèo này có ai biết đọc biết viết. Có phòng, cả gia đình từ miền xuôi díu dắt nhau lên đi ở trọ, làm được ngày nào xào ngày đó. Vợ ở nhà trông “con nhỏ năm tuổi”, chồng đi làm, hai đứa con mười sáu, mười tám tuổi cũng đi làm công nhân. Cái chữ với họ là điều xa xỉ, không kiếm được cơm gạo mà ăn.

Hẻm nhà anh chị ở là con hẻm tối tăm, bé xí và ồn ào. Con hẻm nằm tút tắp trong một con hẻm khác. Đi vào cứ như mê cung, ma trận, vào đã khó ra còn khó hơn. Mỗi lần dắt xe ra ngõ là phải ngồi lên xe, dùng chân đẩy ra, không có đủ chỗ cho người đi bên xe mà đắt. Mỗi lần muốn vào hẻm là phải “chào hỏi” bằng hồi còi dài, vì một xe vào một xe ra thì mắt kẹt hoặc một phải lùi. Hôm chủ nhật mới đến đi chợ, dù chị đã cảnh báo, nhưng ngại còi vì ồn ào tôi dắt đại. Ra đụng phải ông say rượu phòng cuối. Ông ta được rượu kích thích, lại mắc vệ sinh hay sao mà chửi đổng: “Đ.. m… mày. Điếc hay sao mà không nghe tao còi”. Tôi bảo: “Cháu… cháu” rồi lùi xe lại. Khó khăn lắm mới de được cái xe vào phòng mình, cơn nóng nực của Sài Gòn ban trưa làm tôi bức bối quá rủa thầm: Cái lão già, say quá hay sao không nhường cả đứa con gái má hồng như phấn, môi đỏ  như son này chứ. Tự nói rồi thấy ưng ức, nhìn mình trong gương soi trên tường đã mẻ một góc, làm như đó là lão say, nguýt dài một cái, hất tóc ra sau tôi bước ra dắt xe kéo hồi còi dài, trong lòng vẫn nghĩ mình đi đâu người ta cũng nhìn, cứ có cơ hội ông già, thanh niên hay cả mấy đứa con nít cũng nhường mình, cố nán ánh mắt ngơ ngác trên khuôn mặt mình. Đúng là lão sâu rượu. Ra đến hẻm thấy cậu thanh niên đang đứng bên kia đường, ánh mắt ngơ ngác, đi qua đoạn dài nhưng vẫn nhìn thấy cậu ta dõi theo mái tóc đuôi ngựa của mình qua gương chiếu hậu. Cười. Đi mãi, về nấu xong món cá rô kho tộ, canh rau vặt nấu cua vẫn nghe lão say cuối xóm lải nhải. Lão nói những gì mà vợ đẹp, con ngoan rồi buồn vì không kiếm được nhiều tiền cho vợ… lão còn nói gì đó đến mình: “Cái con bé mới đến, nó ngu lắm, không biết kính trên nhường dưới gì cả”. Tôi nghe mà thấy nóng cả mặt. Từ nhỏ, chưa ai bảo tôi là đứa vô lễ bao giờ. Định sang nhà hỏi cho ra nhẽ, giải thích cặn kẽ, nhưng nhớ lời chị: “lão bên cạnh hễ say là la. La hết rượu thì lão ngủ. Được cái không làm hại ai bao giờ”, nên tôi đành thôi. Mải để ý vặt vãnh nồi canh trào vụt ra cả bếp làm tắt lịm cái bếp ga mini. Chơi ở đây được một hôm, hôm sau tôi qua nhà ngoài hẻm, nhà có cô khoảng 45 tuổi làm nghề “ở nhà trông con gái 5 tuổi” ấy chơi. Nói chuyện được lát, tôi về vì họ khác với người dân quê tôi nhiều quá. Và lười lao động, ở tuổi đó, khỏe mạnh như thế ở quê tôi không ai không kiếm việc làm cả. Hễ rỗi ra là họ kiếm việc đi làm thuê ngay. Chiều, cô ta qua phòng bạn tôi, tưởng thăm tôi ai dè: “Con có không cho cô mượn 20 ngàn đi chợ, chiều chú đi làm về cô trả”. Tôi thấy kì, người có tự trọng không ai đi mượn người lạ như thế. Rút túi đưa cô mà lòng nghĩ về những người dân quê tôi. Họ không có cũng không vay mượn một cách tuy tiện như thế. Đặc biệt là những người nông dân quê tôi không ngồi không bao giờ, người trẻ có việc người trẻ, người già có việc người già, trẻ con cũng có việc phù hợp, chẳng ai rảnh rỗi ngồi không bao giờ. Mãi đến hôm tôi về, ra chào cô ấy, cô cũng chẳng có ý kiến gì, không nhó cả trả tiền cho tôi. Có trả tôi cũng không lấy, nhưng thấy cái nghèo sao làm người ta đánh mất đi nhiều thứ một người bình thường sẽ có.

Thứ 3, đi làm về kẹt xe về nhà đã muộn mà chồng chưa về, gọi điện anh bảo đang nhậu bên ông chủ, chị la trong máy: “đừng về nữa, ngủ đó luôn đi”. Về, anh quát: “Đầu to mà óc nhỏ. Không bao giờ chịu đặt mình vào hoàn cảnh người khác. Chỉ biết than phiền, than phiền hoài là sao”. “Anh đi làm không về còn nhậu nhẹt”. Hôm nay là sinh nhật con ổng, em không nhớ thì anh cũng được quên à. Sinh nhật con mình họ chúc mừng thế nào. Kẹt xe cũng kêu, anh làm cho nó hết kẹt được để em về nhanh chăm con chắc. Chị nghe vậy nín thin. Nói rồi anh bế bé Tẹt ra phố chơi, để chị ở nhà với tôi. Chị lặng im, bảo, mình là phụ nữ, sinh con xong trí nhớ giảm đi một phần, nhiều lúc cũng đáng trí lắm, may sao anh ấy cũng là người có trước có sau, có tình có nghĩa không người ta tránh mình không biết điều.
Đó, lại một thằng khác về đó. Chị nói rồi đóng cửa lại, tiếng cót kẹt cánh cửa khô dầu nghe rất chối tai, ê cả răng. Tôi bảo: “sao chị không tra dầu vào cho cánh cửa đỡ kêu, chị bảo: “ừ, chờ cuối tháng có lương, bảo anh Tuấn đi thay nhớt cái Honda rồi xin ít nhớt về tra luôn. Mất công đi mua, mua ít người ta khó chịu, lại bán đắt cho mình”.

Từ ngày họ rút chiêc laptop cho tôi từ tiệm cầm đồ vì mượn để lo tiền đám cưới đến nay, họ vẫn còn nợ tôi một khoản tiền mặt khác. Tôi cứ nghĩ, chắc tại họ chưa trả, chứ làm gì mà không có. Hai người đi làm rồi mà, khi chị chưa đi làm thì không nói. Nghĩ vậy thôi chứ tôi biết tính họ, không bao giờ quỵt của ai một đồng. Chỉ là chưa tiện nên chưa trả thôi. Mãi hôm nay, buồn đời tôi đi Sài gòn chơi, tình cảm thân thích xưa nhủ tôi đến thăm anh chị, bé Tẹt. Nhìn cảnh sống của gia đình họ trong căn phòng thấp bé, chật chội, bức bối; đồ cùng gia đình không có, chỉ chiếc ly nhựa uống nước trong bình 999, chiếc bếp ga mini nhỏ, nồi cơm điện từ thời sinh viên, không cả chậu giặt đồ, xài mấy cái xô sơn… tôi mới biết…
Phòng bên lại cãi vã, chị bảo: “Nghe miết thành quen. Như cơm bữa em ạ”. “Mày cút đi. Lấy mày làm vợ chứ không phải hầu mày nhé. Muốn làm cụ nội tao à. Cho mày tỉnh này. Cho mày chừa này. Đồ đàn bà mất nết”. Mỗi tiếng chửi lại kèm theo cái thụi bình bịch, sau đó là tiếng khóc thút  thít của người đàn bà. Đó là “cách chào buổi sáng” của vợ chồng phòng số năm. Gọi là phòng số năm vì đếm căn phòng đó ở vị trí số năm chứ thực ra cắc phòng ở hẻm nghèo này chẳng có cái số thứ tự nào cả. Cũng như những người dân nghèo ở đây, người ta không gọi tên nhau, thường gọi là anh Thợ hồ, chị Ve chai, anh Thợ đụng, chị Ở đợ… chỉ mỗi chị là được người ta gọi với cái tên cao quý, sạch sẽ: cô giáo. Và anh nữa, có người cũng gọi anh là thầy giáo vì anh thường đọc sách tới tận đêm khua, dù sau một ngày lao động rã rời. Tri thức là khao khát, là sức mạnh cháy bỏng vô hình mà vô song trong anh. Một trang sách hay trong một quyển sách tốt có thể làm anh thấy đời thật đẹp, chính anh cũng thật đáng sống. Một lần vô tình dở quyển sách anh đang đọc dở vào một buổi sáng anh và chị đi làm, tôi thấy nét bút anh gạch bút bi xanh và ghi lên đó. Tò mò tôi đọc được hàng chữ nhỏ xíu anh viết: “không phải tôn giáo”. Tôi không hiểu, lướt đọc nhanh chỗ mũi tên từ nét bút anh tôi thấy trang sách viết về Đạo Khổng và Đạo Lão, ý so sánh vấn đề luân lý của hai đạo này với Phật giáo. Tôi mới tỉnh ra, hiểu ý anh. Và tôi cũng đồng quan điểm với anh, rằng Đạo Khổng và Đạo Giáo là những học thuyết chính trị, khác với Phật giáo (Đạo phật), là một tôn giáo. Đem so sánh đạo đức trong một học thuyết chính trị với một tôn giáo e rằng khập khiễng. Giá sách của anh toàn những sách cũ, không phải vì anh không thích sách mới mà vì sách cũ rẻ hơn. Nhìn bề ngoài của anh, nhất là áo quần anh mặc thì người ta chỉ thấy anh là người chăm chỉ, siêng năng, cần cù; còn nhìn giá sách của anh nhất là những đêm khuya anh một mình bên góc bàn nhỏ bề bộn những ly uống nước, bình sữa em bé… lẫn lộn cùng tập giấy nháp dày cộm anh viết tiếng Hoa mới biết ý chí trong anh, mộng đẹp trong anh còn vẹn nguyên như những ngày anh treo mắt kính, đứng trước lớp Ngữ Văn hơn hai trăm thành viên ứng cử làm lớp trưởng với câu nói: “Tôi sẽ làm được nhiều hơn lời tôi nói. Đích đến của tôi tri thức. Hãy tin tôi xứng đáng đại diện cho bộ mặt, quyền lợi và cả nghĩa vụ của lớp mình”.

Anh đã gần chạm đích thành công. Khi anh rời thành phố ấy xuống Sài Gòn học Cao học với chuyên ngành Văn học Trung Quốc là lúc chị hoài thai bé Tẹt. Hy vọng về một tương lai sán lạn ngửng cao đầu vỡ vụn. Nhưng đam mê trong anh không chết, nó vẫn sống. Sống mãnh liệt. Có lần tôi hỏi anh: “Sao anh không xin đi dạy cho đỡ cực. Cứ đi đập đá thế sau này ảnh hưởng sức khỏe”. Anh bảo: “Tuấn này luôn độc lập. Đi dạy phổ thông cứng nhắc lắm. Mang tiếng dạy Văn nhưng chỉ là những công thức khuôn theo. Lệch quỹ đạo ấy thì ra rìa”. Anh còn nói: “Dạy ở bậc Đại học thì hay. Sinh viên đã đủ tuổi công dân, đủ khả năng tiếp nhận cái mới, cái đúng, cái sai. Lỡ mình có lỡ lời nó còn biết đường mà nhả ra”. “Sai trong đập đá nhẹ thì bị thương, nặng thì chết người. Có bị thương hay chết người cũng chỉ có một, vài người. Còn sai trong kiến thức, trong bài giảng thì không những đầu độc một học trò mà làm sai lệch cả một thế hệ, có khi cả đời không sửa được. Nên muốn làm thầy giáo, làm giảng viên thì phải thật sự nghiêm túc với tri thức, với đạo đức. Nói chung là mệt. Nhưng ngộ ra chân lý rồi thì cái mệt ấy chuyển thành sướng. Sướng lắm”. Anh vừa nói vừa gật gù như những bậc lão thành.

-         Thế anh còn học tiếp chứ.

-         Có chứ. Khi không phải lo cái ăn, cái mặc cho bé Tẹt nữa. Nay chị đi làm được rồi, anh cũng đỡ. Chỉ cơm áo cho hai mẹ con cũng còm lưng anh.

-         Em, em… nghĩ cũng đến lúc anh đầu tư cho tương lai, cho mình rồi. Mấy năm qua anh đã chấp nhận vất vả vì chị và bé.

-         Ừ. Mình sống đặt cái tình, cái trách nhiệm lên hàng đầu. Là người yêu thì dễ, làm chồng thì gánh lên vai cả tránh nhiệm, nghĩa vụ làm trụ cột cho cái gia đình ấy. Là ai, làm gì cũng phải nhớ mình đã là cha, là chồng. Nên sẽ học tiếp. Đời chỉ sống có một lần chứ mấy.

-         Anh sẽ lại đốt cháy đam mê văn chương cổ chứ.

-         Nền văn hóa Trung Hoa ấy, có chất lắm. Văn hóa, văn học Việt mình cũng thừa hưởng và tiếp thu không ít tinh hoa cổ học ấy.

-         Nhưng tại sao anh lại chọn Trung Hoa, sao không là Việt Nam mình.

-         Vì… không vì gì cả.

-         Anh đã yêu chị không biết lý do là gì. Rồi bé Tẹt ra đời, tuy ngoài dự định nhưng điều đó làm anh thấy có những định mệnh trong cuộc đời này. Có lẽ anh cũng có duyên nợ gì đó với chất phong kiến từ lịch sử ngàn năm Bắc thuộc của cha ông mình. Anh không chọn văn học Trung Quốc mà chính sức hút của nền văn học đồ sộ ấy chọn anh.

-         Anh vẫn nuôi chí làm giảng viên?.

-         Đúng, sẽ dạy văn học Trung Quốc; nếu có điều kiện sẽ học thêm Tiếng Trung nữa. Không thể đi sâu vao một nền văn hóa, văn học mà không đọc được chữ viết của họ.

Anh nói tiếp:

-         Người trẻ ngày nay chỉ muốn một công việc vừa nhẹ nhàng vừa ít thời gian lại mang lại cho họ nhiều bổng lộc nhất. Họ không nghĩ rằng việc họ làm mang lợi ích cho người khác thế nào, có ích gì cho xã hội. Không thực dụng thế sao mấy năm nay tuyển sinh các ngành ban C ế thảm.

-         Anh không là người trẻ chắc?.

-         Anh hai lăm tuổi. Cũng già rồi. Hồi hai mươi mà anh nghĩ được xa hơn thi giờ đã khác.

-         Nhưng như thế chắc gì anh đã chín như bây giờ.

-         Đúng. Nếu con đường anh đi phẳng lì làm sao anh biết vượt khó.

-         Em cũng nghĩ thế. Đừng như vị giáo sư Biết Tuốt khoa mình đó, Biết Tuốt mà được phần tự trọng như anh đã không qua lại với cả sinh viên làm đề tài.

-         Em nói quá và sai rồi. Không phải giáo sư Biết Tuốt không tâm huyết và tài trí. Chỉ là xã hội thực dụng làm chây lười cả ông Biết Tuốt. Ông ta bằng lòng với việc nhận Thưởng của sinh viên khi hướng dẫn đề tài cho họ, chứng tỏ Biết Tuốt đã xem kiến thức của mình đã đủ, chỉ cần “nhả” ra chút là đủ sống đời vương giả, không cần phấn đấu thêm.

Nói chuyện với anh bao giờ cũng đụng chạm. Tính anh vốn bộc trực. Bên kia, nghe vọng tiếng ru con à ơi, ru hời. Những đứa trẻ lớn lên ở xóm nghèo này chắc gì đã không thông minh hơn những đứa trẻ may mắn được sinh ra ở nhà giàu. Vì lẽ thường một phần của thông minh là ở gen di truyền. Chắc gì bé Tẹt không được hưởng chút gen trội nào từ bố mình.

Tối thứ bảy tôi về lại thành phố của tôi. Rời Sài Gòn trong đêm rợn ngợp ánh đèn, phố lồng lộng những ngôi nhà cao ốc tôi từng chỉ được thấy trong ti vi. Xa thành phố ấy, tôi không nhớ những con phố bồng bềnh, lồng lộng ánh sáng muôn màu, mà tôi nhớ hình ảnh cũ mèm và xơ xác của con hẻm ấy. Tôi gọi đó là hẻm Không Tên. Vì nó chẳng có tên gì. Sau nghĩ lại, nó sẽ đúng với thực chất hơn nếu gọi là Hẻm nghèo. Có những cái nghèo là định mệnh, như đời cha ông nghèo truyền lại, con cháu không được thừa hưởng chút lợi lộc gì ngoài sự thất học và đôi gót chân nút nẻ vì lăn lội kiếm cơm ăn, áo mặc, chỗ ngủ; chỗ ngủ, chỉ là chỗ ngủ thôi chứ không dám mơ nhà ở, phòng ngủ có giường nằm, gối kê, chăn đắp. Cũng có cái nghèo là do chủ quan, cái đó thì không có gì đáng nghĩ. Nhưng có cái nghèo vật chất mà tinh thần thì giàu có. Trên xe khách về lại thành phố bình yên của mình, tôi cầm lăm lăm trong tay chai nước trà xanh. Chai nước có lẽ chị đã mua bằng những đồng tiền từ bàn tay đen đủi, xương xẩu chai sần đến tróc vảy của anh. Lại nhớ đêm nay, khi mọi người no đủ, giàu sang khác mải miến với những cuộc vui hay say sưa với giấc ngủ căng tròn, anh lại lặng lẽ cúi gầm mặt trên trang sách úa màu của anh. Sáng sớm, anh lại lặng lẽ rời xóm nghèo đến mỏ đá và không quên thơm con gái nhỏ bé cái làm nó ré lên đòi mẹ. Em cũng phải ở với người trông trẻ suốt ngày, có khi đến 7h tối nếu cha mẹ kẹt xe. Không ai biết được trước điều gì về ngày mai của mình nhưng người khôn, người khôn họ biết được con đường mình đi. Dù có lúc đi lệch trọng tâm nhưng họ biết rẽ phải đi tiếp thế nào để không nhầm đường.















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

VIẾT CHO EM!

 23/1/2024 Mấy năm rồi tôi không viết blog. Vì tôi viết Em. Giờ em đã 4y6m tôi cảm thấy nên dành cho Em những con chữ. Nên tôi lại viết. Tôi...