Thứ Tư, 6 tháng 3, 2019

HÀNG XÓM


Ngôi nhà mái tôn vô chủ cạnh nhà tôi bỗng một hôm có chủ. Họ là một gia đình.
Chị làm nghề móc, đan, dệt len. Sản phẩm chị làm ra thường là: khăn, áo, mũ… Có cả kiểu áo khoác ngoài màu xám hồi còn là nữ sinh chúng tôi đã mặc, nữ sinh Đà Lạt bây giờ vẫn mặc.
Anh làm thợ hồ. Sáng sớm anh đi, có khi trưa hoặc tận tối mới về. Tèo là con lớn của anh chị, khoảng hai tuổi. Ngoài ba cha con mẹ con họ còn có thêm đứa bé đã gần đến ngày chào đời trong bụng chị. Nhà chị còn có mấy người con trai tuổi thanh niên ở cùng, hình như là anh em đằng nội, vì cu Tèo gọi mấy người này là chú Nam, chú Bắc.
Họ không phải là dân Đà Lạt, vợ chồng tôi ở đây được năm tháng thì họ đến. Bình thường chúng tôi ít giáp mặt họ, vì chúng tôi đi làm giờ hành chính, còn họ đi từ sáng sớm tới tối mịt mới về, có lẽ họ phải đi làm rất xa. Trừ chị, cứ nghe tiếng quay sợi dột soạt là tôi biết chị đang làm việc, rồi nhìn qua cửa sổ là chỗ chị làm việc, thỉnh thoảng chị mang sản phẩm ra phơi, hôm nhiều hàng dây sào của nhà chị mắc tạm bên hàng rào không đủ chỗ, chị mắc ra cả dãy khắp hàng rào bằng sắt trước nhà tôi. Có vẻ như chị thích phơi ở đó hơn vì nó chắc chắn hơn bên dây nhà chị?.
***
            Hàng tháng, có khi đến ba chủ nhật những người đàn ông trong ngôi nhà đó nghỉ làm. Họ nhậu. Có sáng sớm, nghe tiếng chó ăng ẳng, một loạt tiếng ỳ xèo của quạt, tiếng lá reo ầm ngoài khoảng đất trống bên hẻm ngăn cách nhà tôi với nhà họ. Nghe mùi khét rồi tiếng chặt cốp cốp, sau đó thì cả khu dậy lên mùi thịt cầy. Thế là chủ nhật của vợ chồng tôi tiêu tan bởi tiếng ồn ào của giọng rượu lè nhè như cái loa phát cả ngày người nói chẳng có người nghe. Một hôm khác, cách đó có mấy ngày lại thấy họ kiếm củi thông đâu về đốt lên khét lẹt. Họ đang chuẩn bị thịt một con ngan to chắc đến bốn kí lô. Rồi lại tiếng ồn ào, chén chú chén anh hết trưa sang chiều, tối lại tiếp tục chén tối với tiếng hát nghêu ngao hòa trong tiếng nói như quát. Chồng tôi nói: “hay là mình nhắc khéo họ em, anh thấy ồn ào quá”. “Thôi mà anh, cả tuần họ mới được bữa thoải mái, kệ họ đi. Chắc họ là dân miền biển nên ăn to nói lớn đó”. Thế rồi “choeng, xoành… mày láo vừa thôi. Tao đi làm cả tuần rồi có bữa chủ nhật anh em chú bác gặp nhau nhậu tí cũng không được à”. Có vẻ như chị vợ cũng nói gì đó để anh nổi đóa lên vậy. Lời qua tiếng lại anh em, mày tao rồi đến đồ con lợn… ỏm cả con hẻm. Mấy đứa trẻ con quanh đó đều vén rèm lên, nhưng có vẻ như không nhà nào mở cửa. Tiếng khóc của người phụ nữ, tiếng đứa trẻ con ré lên, tiếng loạng choạng của xong nồi lúc một lớn. Bác trưởng khu phố chạy qua, “có giải tán đi không. Ồn ào quá. Không nghe tôi gọi 113 đó”. Anh chủ nhà nói: “Đây là nhà tôi nhé, tôi thích nói, cười làm gì mặc tôi”. Bác trưởng khu phố tiếp: “Nhưng các anh làm ồn ào cả khu phố, sống sao đừng ảnh hưởng đến người khác chứ. Đây là thành phố chứ có như ở quê các anh đâu mà thích làm gì thì làm”.
            Anh chủ nhà mặt đỏ như gấc chín, đặt chén rượu cái xạch trên chiếc mâm nhôm trắng đứng dậy lớn tiếng: “Rượu nhà tôi tôi uống. Tôi ăn cơm gạo nhà tôi, thịt chó nhà tôi đấy. Ông tưởng tôi đi trộm chó à. Là tiền tôi đi làm thợ hồ đấy. Tôi không có chữ thì tôi bán sức kiếm tiền, chứ tôi không xin xỏ ai, không ăn cắp nhé”. Vừa nói anh vừa trừng mắt nhìn, bàn tay nắm chặt nắm đấm dứ dứ vào bác trưởng khu phố giọng điệu thô lỗ: “lão già già mồm, biến”. Chị nước mắt ngắn dài vỗ vỗ vào lưng cu Tèo. Cái bụng đã chảy xuống như sắp đến ngày vượt cạn. Ai cũng ái ngại nhưng biết mấy người đã ngà và say nên chẳng ai nói thêm gì.
            Chồng tôi dễ tính nhưng cũng phàn nàn lên xuống, tuy chỉ nói với tôi: “Giá cứ được yên tĩnh như mấy tháng đầu vợ chồng mình mới về ở đây nhỉ”, tôi chọc: “ai bảo anh chọn đất ở đây, không chịu đi… xem Thầy gì cả”. “Em nhé, thế mai em xem Thầy về chỉ cho anh cách giải quyết vấn đề ồn ào mất trật tự này đi”. “Được đó, em đã bảo Thầy cái gì cũng biết mà”. “Thế em hỏi Thầy làm sao sinh con gái đi nhé? Phải chắc chắn đó, các nhà Giới Tính Học dự đoán năm 2025 nước mình một gái lấy được 2 chồng đấy. Anh muốn…”. “Có anh chính là nhà Giới Tính Học ấy”, tôi nói thầm vào tai chồng làm cho anh thích thú và làm cho tôi hết chọc luôn, hai vợ chồng lại quay qua thì thầm những chuyện làm sao sinh con gái, làm sao… và làm sao…
Chồng tôi cũng là người ham vui, anh ấy thỉnh thoảng mời bạn đến nhà làm cái tiệc nhỏ dịp ngày lễ hay cuối tuần. Chỉ đủ vui cho hai vợ chồng trẻ như chúng tôi và những người khách thân tình. Nhưng thấy nhà bên nhậu vào lời ra sinh to chuyện anh cũng từ bỏ mất thói quen tốt đó. Nhà tôi đã vắng còn vắng thêm. Một hôm đang quét sân thì cu Tèo chạy qua nhà tôi, đứng ngoài cửa nhìn vào nhà tôi đầy thích thú. Tôi mời cu Tèo vào. Nhóc vào thật, chơi được một lát nhóc đòi về, tôi bế cháu về. Qua nhà thấy chị gầy nhom, xanh xao đang đan áo. Chị bảo: “cu Tèo nó dạn lắm, thấy nhà ai mở cửa là nó vào à. Nó thích đi chơi nhưng vợ chồng chị  bận quá em ạ”. Nhìn chị vừa nói chuyện tay vừa liến thoắng luồn những sợi len vào kim đan một cách thành thạo tôi lấy làm thích thú. Nói chuyện với chị một lúc tôi thấy chị hiền lành, tốt tính chỉ có điều khó khăn mọi mặt. Tôi mua cho mình một lốc len, bảo sẽ nhờ chị chỉ cho cách đan áo cho con, vợ chồng tôi dự định sang năm cũng sinh con đầu lòng. Lòng tôi còn bao dự định…
            Ngày chủ nhật tiếp đó, tôi ngủ dậy trễ, tính qua nhà chị hàng xóm nhờ chỉ cho cách đan len thì nghe tiếng kêu rên từ phía nhà chị. Chạy qua, chị đang nằm ôm bụng dưới nhà, vừa kêu từng tiếng như khóc: “giúp tôi với”, chị vừa ôm bụng. Lúc tôi co chân chạy, vừa chạy về nhà vừa kêu chồng, vài phút sau mấy người quanh xóm có nhà đều chạy qua nhà chị. Mọi người đang loay loay lấy xe chở chị đi bệnh viện thì tiếng khóc oe oe của trẻ nhỏ. Một bé gái xinh xắn đã chào đời tại căn nhà mái tôn cũ kĩ này. Một thế giới nhỏ lại bắt đầu từ cái thế giới không mấy rỗng rãi, không mấy mát mẻ này. Tiếng lá thông vẫn rơi lộp cộp trên mái tôn nhà chị. Một bà già có kinh nghiệm ở lại với chị và cháu, còn mọi người về hết. Đứa trẻ ra đời như vậy. Nó nhìn cái thế giới xung quanh khác thế giới trong bụng mẹ bằng đôi mắt nhắm nghiền. Không biết, nhỏ xíu thấy được những gì, chắc nhỏ xíu cũng thấy được nụ cười gượng gạo trên môi mẹ nó?.
            Hôm đó về chồng tôi lại trêu tôi: “sau này anh cũng chẳng phải lo gì, em ở nhà thích sinh lúc nào thì cứ tự sinh như chị Nhàn vậy”, “Em mà cần gì bệnh viện hay khoa học tiên tiến, thầy đỡ giỏi em cũng không cần. Con em thích ra với ba mẹ lúc nào là nó ra nên anh tha hồ mà sướng nhé. Em cũng được mẹ sinh rớt ngay trên bờ ao lục bình, lúc bà đang hái rau lợn nên đặt tên em là Thủy đó”. “A, anh biết rồi, Thủy thủy chung, màu tím hoa Lục Bình… ý mẹ em là vậy”. “Còn có bí mật về tui nữa đó, không nói cho ông biết đâu. Để sau có người tình tôi kể cho anh ta…”. “Ồ, được đấy, bà tưởng mỗi mình bà là có tình nhân à. Tôi đây, còn có thể có cả hai ba tình nhân đó. Trinh Công Sơn còn có: Biển một bên và em một bên đó…”. Vợ chồng tôi vẫn vui vẻ với nhau như những đôi bạn thân vậy. Chị sinh được tròn một tháng thì chị lại trở lại với việc đan, móc lúc con ngủ. Chị cũng đội nón ra vạt đất trước nhà trồng mấy hạt rau. Không như phụ nữ thành phố chúng tôi, mà sinh là ở cữ cả ba tháng, không động chân tay vào việc gì cả. Chị nói: “ở quê sinh xong dậy giặt đồ là bình thường, nhiều người còn ra đồng nữa. Chị ở nằm ổ cả tháng cũng thấy ngứa tay ngứa chân lắm”. Chồng chị vẫn đi làm về muộn, các chú Nam chú Bắc vẫn ở nhà chị. Chị ở nhà vẫn lo cơm nước cho họ. Nhà có trẻ con mà thỉnh thoảng vẫn tiếng ồn ào, tiếng nói to như cãi nhau vậy. Có lẽ chị cũng quen với tiếng ồn đó, cháu bé cũng đã quen với sự ồn ào như vậy từ lúc chưa chào đời hay sao mà ngoan, không nghe khóc nhè bao giờ.
            Hôm khác lại tiếng chó ăng ẳng, tiếng nói cười và cả tiếng cọc cạch của dao, thớt. Hôm đó là đầy tháng cháu nhỏ. Họ có mời vợ chồng tôi, nhưng tôi lấy cớ hai vợ chồng đi đám cưới đứa bạn thân, tối mới về, về muộn vợ chồng sẽ sang sau. Thực ra biết ở nhà ồn, vợ chồng tôi rủ nhau ra khách sạn nghỉ, với lại chồng tôi cũng muốn ôn lại kỉ niệm ngày đầu quen nhau. 7h tối về thì nghe bên nhà tiếng ồn ào cãi cọ: “Tao không trộm chó nhà mày nhé. Chó tao mua ngoài quán, không tin ra tao chỉ cho mà hỏi nhé. Mà hỏi đúng thì tao cho mày ăn Cơm Chó luôn. Con m… mày”. “Đồ ăn tục, ăn b…ẩ…n nói phét. Hẻm này chưa bao giờ mất chó cả, nhà mày về hết vụ gà rồi chó, rồi sẽ mất cả xe, cả người cho mà coi”. “Bọn này trộm chó nhà mày rồi làm thịt khác gì… lạy ông con ở bụi này. Mày ngu vừa thôi chứ”. “Ờ… thì bọn mày mặt dày…”.
            Sau mấy vụ mất vặt trong hẻm chồng tôi đâm cảnh giác. Anh bảo: “tốt nhất là cẩn thận, không tin được ai đâu em ạ. Với lại anh cũng ngờ ngợ. Trước đây hẻm mình có mất cắp gì đâu”. Tôi cũng sợ, biết đâu một ngày đi làm về các ổ khóa đều bị bẻ hết; biết đâu tôi đang nấu ăn trong bếp, chồng tắm trong nhà tắm, cửa thì không đóng có người mò vào nhà rồi… Tôi khóa hết cửa.
            Sáng sau tôi dậy trễ nên đi làm sau. Tôi khóa cửa đi khóa lại mấy vòng rồi lại kiểm tra xem đã khóa kĩ chưa. Ra cổng, tôi cũng cặm cụi tỉ mẩn khóa từng vòng cửa cổng. Tôi loay hoay làm rơi khóa, chiếc túi xách trên vai rơi xuống cánh tay cản trở việc tôi làm. Tôi đành treo chiếc túi vào cửa để khoa cho thoải mái, cẩn thận. Rồi tôi kiểm tra lại thấy đã khóa hai ổ khóa cửa cổng chắc chắn, tôi lên xe phóng nhanh kẹo trễ giờ. Tới chỗ làm chực nhớ đến chiếc túi xách của mình. Tôi hú hồn, mất rồi, chạy về cũng không kịp nữa. Dù biết cả gần ba mươi phút rồi, người qua lại nhiều, sẽ không còn nữa nhưng nghĩ đến hai mươi triệu tiền thưởng của khoa giao cho tôi cầm để phát cho thầy cô ngày nhà giáo tôi lao một mạch về nhà. Tôi hy vọng không ai để ý đến chiếc giỏ màu vàng, treo trên cửa cổng nhà tôi. Tôi lao xe chưa bao giờ nhanh hơn thế.
***
            Chiếc xe phanh cái kít trước cổng, tôi kêu lên: “trời ơi, làm sao đây. Lấy tiền đâu mà phát cho các thầy cô trong khoa đây. Trời ơi, làm văn thư lương tháng bốn triệu, mất cả nửa năm làm không công rồi…”. Tôi tái mặt đứng như trời trồng trước cổng nhà mình. Như nghe tiếng xe đỗ lại, đoán biết tôi về chị Nhàn (tên chị) nhà bên bế đứa nhỏ chạy qua: “em về đấy ạ. Em tìm cái túi phải không. Nó đây này. Lúc nãy chồng chị ngủ quên, đi làm muộn, ra đường bắt được cái túi treo trước nhà, biết là của em nên anh đưa về bảo chị: trưa về đưa cho em. Ảnh còn nói đùa chắc toàn son với phấn trong nên bảo chị  đừng có mở ra xem kẻo không biết mở lại làm hỏng khóa thì tội cô ấy”. Đây, chị để trong nhà mang ra cho em đây, cũng chưa mở ra xem đâu, em không cần kiểm tra gì đâu. Thôi chị vào nhà đây, chị đang ăn dở tô mì, kẻo sình hết rồi.
            Nói rồi chị vội vã đi vào, tôi chỉ kịp nói với theo: “Cảm ơn anh chị. Em…”.
            Tôi lên khoa dự lễ muộn, thầy trưởng khoa phê bình ngay tại trận. Tôi đành đứng dậy, kể lại câu chuyện này. Phía dưới, có nhiều lời xì xào. Tôi nghe một người nói: “Đời không nhiều tấm lòng vậy đâu, số Thủy còn may đấy”. Tôi cũng tin vậy.
            Tối đó vợ chồng tôi qua nhà anh chị chơi để cảm ơn. Họ nói: “Tiện đây nhà tôi cũng chào hai người luôn. Sáng mai nhà tôi chuyển qua bên hẻm Cụt. Bên đó giá phòng rẻ hơn, lại gần chỗ làm. Tiện”. Vợ chồng tôi nhìn nhau ấp úng: “Nhà anh chị chuyển đi thật à, tiếc quá”. Lòng tôi chênh chao, luyến tiếc phải dã biệt một hàng xóm tốt.
Đêm đó, cả hai vợ chồng tôi đều trằn trọc mãi, vì còn có người tốt vẫn phải sống thiếu thốn và bị xem thường.

GÃ ĐÀO GIẾNG


Gã lại chặt ngón tay. Lần này thì gã thề sẽ yêu người đàn bà ấy. 30 tết mà còn chặt ngón tay thề thốt, “em là người cuối cùng”. Ờ, gã thề xong, người cuối cùng sợ quá. Còn lại mình gã và chính gã mới chính xác là người cuối cùng. Vài hôm sau gã ra khỏi nhà, người ta thấy ngón tay trỏ của gã băng băng trắng. Chẳng ai hỏi han gì. Vì biết hỏi gì cũng vô duyên. Họ hỏi đủ chuyện, gã nói đủ chuyện trừ ngón tay băng gạc trắng có vết nâu đỏ vền vện. Gã vẫn hề hề như mọi lời thề chỉ là một cơn say. Rồi tỉnh sau mọi cơn say.
Gã không biết đau, không ốm, không than vãn. Gã chỉ có công việc, ăn, uống no say. Rồi thỉnh thoảng lên cơn thì tiễn một vài đốt ngón tay. Thành thử, gã là người cùi không lây. Người làng gọi gã là gã cùi. Nhưng chẳng ai xa lánh gã, trừ vài cô bé sinh ra vào mùa trăng nên mong manh như nắng.
Gã độc thân. Hiện tại thôi. Tương lai còn dài. Gã từng có hai người vợ. Hai người đều bỏ đi. Con theo mẹ hết. Chẳng đứa nào nhìn lại cha nó.
Gã không được học chữ nào. Gã chưa từng biết đến lớp học nào. Trong cuộc nước chè xanh mùa nông nhàn nào đó, gã kể hồi đi theo bạn vào nhà thăm cô giáo của bạn, gã hốt nguyên ổ trứng gà đang ấp của nhà cô giáo bạn. Đó là bữa trứng gà luộc nhớ đời. Gã bình luận thêm. Gã kể chưa xong, đã đứng dậy tớp thêm cốc chè đặc, vừa nuốt vừa bước đi. Ước gì gã có dáng đi như trâu như bò thì nhẹ nhàng cho cuộc đời biết mấy. Gã đi như ăn cướp, hoặc như đàn bò đang nhởn nhơ gặm cỏ bị sói rừng ra đuổi rượt, móc đít cào ruột ra, vừa chạy vừa rống lên. Nào gã có cướp của ai bao giờ đâu, trừ vụ trứng gà chuyện đời tự kể của gã, ai cũng biết gã thật thà. Gã từng chạy măng trong rừng từ hồi biết đi rừng tới xế bóng. Gã luôn lao động chân chính để nuôi thân. Gã đi đóng gạch thuê. Gã làm tất cả mọi việc, miễn có cái no bụng. Nhưng cái miệng gã như một tai họa cho những ai theo phái văn hóa. Không vì thế mà gã bị hắt hủi. Gã được việc, nên cứ có việc nặng, việc khó người làng lại gọi gã. Gã chẳng bao giờ thất nghiệp. Đồng nghĩa với gã luôn có đủ ăn no, uống say, hề hề. Đời như mơ dù có lẽ gã nằm là ngủ và ngáy chứ chẳng mơ bao giờ?
Mỗi lần có sự cố gì đặc biệt, gã lại chặt một vài đốt ngón tay. Ngón tay của gã mỗi ngón còn 2 đốt. Nhìn như thằng cùi. Khốn khổ. Nhưng gã nào biết khổ. Lúc nào gã cũng cười hề hề. Khi chạy măng, gã cũng bán được nhiều tiền nhất, vì gã có sức khỏe, như trâu. Gã có thể gánh số măng gấp đôi người ta. Chạy măng là đi lấy măng trong rừng sâu. Đi xa làng lắm. Đường rừng khó đi. Người khỏe mới đủ sức đi măng. Gánh nặng. Có lần tôi đã đi theo mẹ. Tôi đã thấy người rừng. Người rừng bận áo như lá cây, tóc dài, mặt còn hoang dại, tôi nhìn thấy từ xa người rừng đã chạy mất. Tôi thấy hay tôi nghe người làng kể về người rừng tôi tôi tưởng tượng ra, tôi không chắc. Nhưng có người rừng. Tôi biết. Voi rừng thỉnh thoảng còn ra làng quật phá vườn nhà người làng mà. Chó sói bói đít bò nữa. Chuyện mới cách nay vài chục năm thôi. Nên tôi còn mang máng.
Trở lại với gã, người kì dị nhất làng. Vì gã to khỏe nhất. Vì gã nói to nhất. Vì gã có ít đốt ngón tay nhất.
Gã nói thì như chó sủa trăng, mà chó sủa trăng còn có lúc nó hụt hơi. Gã thì không. Giọng nói của gã, vang, cao, có lực như sấm. Vì sao thế. Sinh ra gã đã hơn người ở sức vóc. Gã đô con, khệnh khạng. Lại thêm nghề của gã, nghề đào giếng. Mùa khô thì đào giếng. Gã chui tọt xuống giếng, xà beng, cuốc, thuổng, giây thừng, gàu… Dụng cụ lao động của gã. Và phải đồ ăn nhiều, ngon. Lao động nặng mà. Bữa sáng phải cơm thịt. Không cần canh. Gã chẳng ăn canh bao giờ. Bữa xế phải lòng lợn. Loại lợn mạ gã mới thích. Bữa trưa thì rượu không thể thiếu. Gã uống như đổ. Núc rượu. Đùng cái. Gã nói bỏ rượu. Vì sao đố ai biết được.
Thường, đi đâu về ghé qua nhà tôi gã đều ghé vô uống nước. Cứ có gã vô ấm nước che nhẹ như ấm không. Lại lọ mọ đi làm ấm mới nên tôi ghét gã. Nếu không vô, gã sẽ ới gọi “Minh ơi. Sướng, no, say chưa?”. Minh là tên cha tôi. Dù cha tôi đáng tuổi anh nhưng gã toàn kêu ngang. Với gã, vai vế là gì. Thứ tự là gì. Ai đô con hơn, rượu núc tợn hơn là anh rồi. Nhưng với đàn bà phụ nữ gã cũng nhõng nhẽo lắm. Như thành thói. Gã luôn gọi cha tôi tên ngang, Minh. Nhưng với mẹ tôi, gã gọi ả. Ả Đào. Tất nhiên gã không biết ả đào là một món nghệ thuật.
Hồi nhỏ tôi sợ gã phát khiếp. Gã mà vào nhà uống nước, nhà chỉ có mình tôi kiểu gì gã cũng chọc. “Tối qua cha mẹ mi có ồn ào không?”. Hồi đó tôi chẳng biết ồn ào là gì. Tôi nói “không”. “Nói phét”. “Lớn tướng rồi hậy”, vừa nói gã vừa nhìn chằm chằm vào chỗ không phải ai cũng được phép nhìn, gã làm tôi phát khiếp. Từ đó tôi cứ nghe tiếng gã trong nhà là tôi không dám về nhà. Dù đó là nhà tôi. Nếu tôi ở trong nhà, gã vào đột ngột, uống nước ngoài hiên nhà dưới là tôi tịt luôn trong nhà, cho đến khi gã ra về, mà tôi đoán gã đi khỏi rặng tre cuối cùng của vườn nhà tôi. Tôi sợ gã như người ta sợ cùi.
Lần nọ gã đào giếng cho nhà tôi. Gã như bắt được mạch nước. Chỗ nhà tôi ở cao. Chân một quả đồi. Địa hình trung du miền núi, kiếm ra mạch nước đã khó. Kiếm được mà mạch nước đủ nguồn nước cho cả mùa khô thì thật khốn khó. Nhưng cả khu đó chỉ có nhà tôi có mạch nước muôn thuở ấy. Vì gã ngửi được mùi mạch chủ. Những nhà xung quanh thợ khác đào. Gã chỉ lắc đầu. Nhổ bọt miếng rồi đi. Gã lại đi như ăn cướp. Nhưng nào gã cướp của ai bao giờ.
Khi đào giếng cho nhà tôi, từ tối qua, cha tôi đã dặn mẹ sáng đi chợ, nhớ đi sớm, mua 5 kí lô bánh mướt, 2 kí lô lòng, chủ yếu là dồi. Đoạn ruột già. 3 lít rượu mạnh, thuốc lào nhà ông Biên. Gã hút độc thuốc lào Vĩnh Bảo đó. Mẹ tôi “gớm” một cái như dài cả kilomet. Cha tôi nói “nó ăn uống như Hecquyn. Mẹ mày sẽ thấy thôi”.
Sáng sớm, mới 7h gã tới. “Có chi ăn không ả Đào. Tối qua chén một nồi cơm với cà muối, giờ đói qúa”. Mẹ tôi nói “chờ chút” rồi kêu tôi soạn bữa sáng cho gã. Tôi lấm lét như mèo con. Một đôi đũa, một chén ăn cơm. Một dĩa bánh cuốn, một muỗng nước mắm vô chén nhỏ. “Bé con cho chú cái tô. Chai nước mắm”. Nói rồi chú ra góc vườn nhổ một cây ớt chuột vô. Tôi nhìn phát khiếp. Loáng cái, tôi mới rửa xong nắm chè xanh để làm nước thì gã đã ăn gần xong bữa. Thực ra tôi cũng hơi ngoa, vì tôi rửa nắm chè xanh thì nhanh mà chơi với mấy cái hoa chè trắng ngọc ngà thì nhiều, nên chậm. Cây ớt chuột gã nhổ cả gốc vào đã chỉ còn trơ trụi lá. Chẳng còn quả nào. Ít nhất hai chục trái ớt. Tôi nhìn mẹ tôi, mẹ tôi nhìn cha tôi. Cha tôi a hèm sai vặt mẹ con tôi sau khi nói “tối qua tao đã bảo mẹ mày rồi mà”.
Loáng cái, 9h sáng. Tôi vừa đi xin sả ở nhà bà ngoại về thì ối thôi, một đống đất đen, đỏ, cùng lởm chởm sỏi đã thành cồn. Tôi tưởng có máy ủi ủi đống đất kia. Không, mình gã và hai bàn tay to xù thô kệch của gã thôi. 10h, mẹ tôi vừa vặt lông con gà mái mơ xong gã đã lên đòi điểm tâm. 3 gói mì tôm Tân Bình, lớp bao trong có bóng, lớp bao ngoài là giấy báo. Đó là loại mì gói ngon nhất thời đó. Khoảng hơn chục năm trước. Gã húp mì chùn chụt. Gã đưa tay quẹt mồ hôi. Nào có áo. Gã ở truồng. Bụi đất trên tay vây hết cả mặt gã, trông gã như diễn viên hài. Nhưng tôi nào dám cười, tôi trộm nhìn gã qua ô cửa sổ đã bị mưa dột làm cho khuyết một góc gỗ vì nước. Mẹ tôi bỏ một lớp củ sả xuống dưới đít nồi, bỏ con gà lên, rồi một lớp lá chanh ở trên thân con gà. Mẹ đổ nước vô. Bắt đầu bắc lên bếp. Gà vừa chín. Xôi vừa dậy mùi, mẹ bỏ lá cơm nếp vô cho thơm. Mùi bữa trưa gã đã đánh mùi được. Gã kêu lên từ dưới miệng giếng, chắc độ khoảng 20 m “Trời ơi, mùi chi mà thơm khủng khiếp”.  Gã như được tiếp sức. Tiếng vang của giọng gã, tiếng dội vào không gian giếng, tiếng của cây ròng rọc quay để hốt đất gã đào dưới sâu lên như vang vào tiếng chó sủa khách lạ. “Chị ơi bán mít không”. “Bán chác gì, thích trái nào cho trái đó”. Mẹ tôi vốn hay cho người miền xuôi, họ lam lũ hơn nhà nông chúng tôi. Họ dân chài, đổi cá, đổi muối. Họ thồ hàng bằng xe đạp mà nhìn cái tôi muốn té bẹp dí.
Dưới giếng, gã vọng lên. “Đổi cái ấy không em ơi, anh đổi cho”.
Gã kêu lên. Kéo đất nhanh lên, nghe ẩm rồi. Khoảng chục mét nữa là tới mạch”. Mừng rơn. Mẹ tôi nói “Thật hả, tôi cứ tưởng chỗ này không có mạch nước”, “ả coi thường tui quá”. Đống đất trên mặt đất đã chất như một quả đồi. Tôi thích thú với màu đất mới, màu vàng. Tôi chưa từng thấy đất nào trong vườn nhà mình lại có màu ngọt vậy. Thôi tính lấy một nắm để dành chơi.
Đến chiều, đất đen, pha nâu, ướt, mát, mịn. Đất thật kì diệu. “Ở dưới đó đất đẹp ri à chú Phương”, tôi thích thứ đất này quá, nên quên hết cả sợ hãi chú Phương. “Nhờ mày mà tao nhớ tao còn có một cái tên đó”. Chú Phương, tên gã. Tôi nói với, âm thanh vọng xuống đáy giếng rồi dội lại những gì tôi nói theo một giọng khác “cháu muốn xuống đó chơi”, “dưới này có ma đấy”. Vậy thôi, giọng tôi buồn thiu. “Nhưng tao có cái này cho mày này”. Nói rồi cha tôi kéo ròng rọc lên. Lần này trong thùng không phải là đất như những lần trước, là một trái lựu đạn. Chẳng phải nhà tôi ngoài vườn còn nhiều cái hầm đó sao. Đó là chiến địa một thời. Một trái lựu đạn chết. Cha tôi cũng biết nó đã điếc. An toàn cho tôi.
Món quà đó, tôi còn cất giữ như một kỉ niệm. Bao nhiêu người đã chia lìa vì trái lựu đạn này.
Đêm đó, tôi mơ tôi xuống đáy giếng, một đường hầm nhỏ, nhưng mát lạnh đưa tôi đến thế giới khác, cuộc sống khác dưới lòng đất. Đó là những cô gái, chàng trai trẻ đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất, họ mãi ở lại đó. Tôi chỉ cho họ đi theo con đường tôi vừa đi, sẽ trở về được, họ nói “nhưng chẳng ai còn nhận ra chúng tôi nữa”. Sáng, tôi dậy sớm, tôi lên nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào, nơi dãy mộ Vô Danh. Tôi quỳ gối!
Tôi không còn sợ chú Phương đào giếng nữa. Vì chú đã nói thật “dưới này có ma đấy”. Chú thô, chú khùng khùng là tự làm mình đau, chặt cả ngón tay, chú không biết xưng hô có văn hóa, đúng thứ bậc, chú ăn và đi đứng, uống và ngủ nghỉ như trâu bò. Nhưng mà chú đã nói thật nên tôi không còn sợ nữa. Con người nói thật thì họ không đáng sợ. Vì sự thật dù trần trụi đến đâu cũng không đáng sợ.
-         Chú kể cho cháu về những người dưới giếng đi. Họ nói gì với chú?
-         Có chó nào dưới đó đâu. Tao dọa mày thôi. Con gái xuống sâu dưới giếng mày ngột không thở được đâu.
-         Chú nói láp.
-         Tao nói láp thì trời đánh.
Hồi đó, sau món quà là quả lựu đạn câm, sau giấc mơ tôi xuống giếng gặp những chàng trai cô gái trẻ mặc áo đồ bộ đội, vai đeo palo. Sau những chất vấn tôi hỏi chú Phương đào giếng, tôi lại nghĩ: Chẳng có chú Phương nào hết. Vẫn là gã đào giếng, say say, chán đời và yêu đời đều chặt ngón tay đó thôi.
Giờ, vài chục năm đã qua, tôi không còn là cô bé nữa. Tôi gọi chú Phương. Chẳng có gã say nào hết. Chú Phương đào giếng.


NHỮNG GÌ CÒN LẠI

1.     Những phương tiện từng đi, những con đường từng qua
Tôi đã từng đi bộ đến trường trước khi có xe đạp. Đó là khi tôi học cấp 1. 5 năm đều đi bộ. Khoảng 04 km. Khoảng cách ấy với một đứa trẻ 6 đến 11 tuổi không phải ngắn. Mùa thu sương muối, mùa đông rét buốt, mùa xuân mát mẻ, đôi chân trần đến dép tổ ong. Có lẽ tôi đã quên nhiều thứ cần nhớ.
Cấp 2, tôi có xe đạp.
Cấp 3, xe đạp.
Đại học, đi bộ. Trọ học ngay bên trường nên không cần xe.
Đi làm, hon đa.
Và tôi biết thêm những phương tiện khác, tàu thủy, xe ô tô, tàu hỏa, máy bay.
Phương tiện nào tôi thích nhất? Đi bay nhanh nhất, nhưng bay cất cánh tai tôi như mốn tung. Thêm chút nữa muốn bùng, đứt cả dây thần kinh, vỡ cả tĩnh mạch trong tôi. Đi ô tô thì sao? Về tới nhà phê luôn. Vì một chiếc ghế cho một tư thế để về nhà, khoảng 30h mới tới nhà.
Tàu hỏa, kín bưng, thế giới bên ngoài vút như một thước phim nhanh cho người già mắt đã kèm nhèm nhìn cháu trai thành cháu gái.
Nên, đi bộ, tôi thích nhất. Nhưng đi bộ chỉ cho quãng đường vừa đủ.
Đi bộ hồi sinh viên. Đi bộ hồi đi làm, chiều chiều dạo công viên. Đi bộ hồi tiểu học đi học vẫn tưởng quên mà vẫn nhớ. Sao vậy nhỉ!
Đơn giản vì đi bộ cho tôi có thể vừa đi vừa chơi. Đi bộ tôi được tự do. Đi bộ chơi với đám cỏ ven đường. Hái trái nổ màu trắng kết thành chùm ven đường, chơi chán rồi ăn. Vị nhạt xếch nhưng màu trắng, tròn như một hạt xốp trắng bây giờ. Tuyệt vời!
Đám cỏ bên đường, mỗi mùa một thứ hoa. Vườn nhà ai có hoa gì, tôi đều biết. Tôi nhớ dụ ngôn “dắt ốc sên đi dạo” trong sách “Sức mạnh của tĩnh tâm” quá xá. Khúc đường nào cô bé hồi đó hay ngó nghiêng, khúc đường nào đi nhanh kẻo nắng. Ôi, tuổi thơ. Có một ngôi nhà tôi còn nhớ mãi.
Đi dọc đường làng tôi cũng biết luôn hôm nay nhà ai ăn gì. Chua chua nhút mít, cá khô rim thơm thơm, mặn mòi, lâu lâu góc bếp nhà ai đó lại có vị ngọt hương thơm lá chanh của món gà nấu trôi. Bước chân chậm lại, nếu-như-đây-là-mơ-cho-tôi-dừng-thêm-phút-giây-này…
Nhà ai vườn mít chín bói. Nhà ai vườn chuối có trái chín bói bị tôi vặt trái chín. Nhà ai từng mất trộm bông hoa đẹp nhất bởi người yêu hoa cũng là kẻ hái hoa. Chó nhà ai từng bị làm phiền bởi đám học trò quỷ nhỏ trêu chọc chúng. Cún nhà ai từng được ăn kẹo, thứ kẹo mục mật mía và đậu phộng cô lại thành thỏi kẹo như viên phấn, gói trong lá chuối hoặc lá bục bục, một thứ lá mà mặt ngửa trơn sạch, mặt úp toàn bụi như phấn. Nhớ tha thiết!
2.     Những người bạn từng thân
Mỗi thời gian tôi có những người bạn thân. Chỉ một thời gian, còn lại họ ở trong kí ức tôi rồi.
Các cô bạn hồi cấp 1 tôi quên hết rồi. Hay họ quên tôi không biết.
Cô bạn hồi cấp 2, nhà cô bạn tên Anh có cây hồng xiêm. Thỉnh thoảng tôi được ăn ké. Có hôm hai quả chín, quả to bự bị chim nếm trước. Quả nhỏ. Tất nhiên trái cây, quả nào chim ăn là quả xứng đáng được lựa chọn nhất. Loài chim tinh anh lắm. Cô bạn nhường tôi quả bự có một góc khuyết chim nếm ấy. Tôi nhớ mãi. Cô bạn ấy còn có sách tham khảo cho tôi mượn. Tôi thì chẳng có gì ngoài sách giáo khoa cũ có khi rách bìa của anh chị tôi đã học. Cô bạn tôi cho tôi đi dép bitis, thứ dép gì mà êm ái như dép tết bẹ chối hồi bé xíu chơi. Tôi nhớ mãi cô bạn tôi, Hưng Anh.
Cấp ba, tôi chỉ có một cô bạn thân. Cả lớp dường như tôi chỉ chơi với cổ. Giờ tôi vẫn nhớ cô ấy như in. Tôi biết cổ cũng nhớ tôi, rất nhiều.
Đại học tôi có hai cô bạn thân. Hai người đều đã đi làm ở hai tỉnh khác nhau. Tôi ở nơi khác. Từ khi tốt nghiệp đại học đã 5 năm, chúng tôi chưa gặp lại. Mỗi cô bạn hồi đại học đều là bạn, là thầy của tôi. Người thì dạy tôi cách hòa đồng, người khác dạy tôi cách vượt qua khó khăn. Chắc tôi cũng dạy họ vài thứ khi chơi cùng. Như khả năng một mình không chán. Một mình trò chuyện với những người khổng lồ muôn thời đại. Những người khổng lồ ấy ở phần 3, “những quyển sách từng đọc”.
3.     Những quyển sách từng đọc
Cả thời tiểu học, cấp 2, cấp 3, đại học, hiện tại tôi đều có những quyển sách đã từng thân.
Những người bạn từng thân, giờ tôi vẫn thân. Dù ít liên lạc. Trong kí ức tôi họ vẫn là một phần. Mỗi khi mọi thứ như vượt quá giới hạn, chỉ cần nhớ về họ tôi như được tiếp thêm năng lượng.
Cũng vậy, những quyển sách tôi đã đọc, từng yêu giờ vẫn yêu.
Trước khi vào đại học, tôi chưa biết đến thư viện. Phải, nhưng tôi đã thân báo Thiếu niên tiền phong, báo Nhi đồng từ nhỏ. Báo nhi đồng, thiếu niên tiền phong được cấp miễn phí cho trường tiểu học miền núi dì tôi dạy. Dì mang về cho tôi. Dì chính là cầu nối cho tôi gần tới văn học.
Tôi đọc say sưa, cùng với việc tuổi thơ đi bộ đi học, lang thang đủ, ngắm đủ, nếm mùi vị bằng khứu giác cùng trí tưởng tượng đủ để viết. Tôi bắt đầu viết, như thế.
Những quyển sách đó là “Tuổi thơ dữ dội”, “Dế mèn phưu lưu kí”, “Búp sen xanh”, “…mèo dạy hải âu bay”, “cánh buồn đỏ thắm”, “Tốt Tô Chan, cô bé bên cửa sổ”, “Cuộc đời của Pi”. Những quyển sách tuổi thơ mà vào đại học tôi mới được đọc. Không sao, tôi thêm một lần thơ trẻ.
Nhiều sách “người lớn” chuyên đặt vấn đề, giải quyết vấn đề đại sự khác, tôi cũng mê, nhưng chỉ xin bàn sách thơ trẻ. Tôi thích nhất quyển nào? Đó là “chuyện con mèo dạy hải âu bay”, vì sao ư? Vì hay. Đúng thế, tôi thích điểm nhìn khác biệt của tác giả, nhân vật chính là con mèo đen nhưng tính cách bên trong, tuyệt vời sáng ngời ông mặt trời. Con mèo đen tình cảm, con mèo đen giữ lời hứa. Con mèo đen yêu đồng loài và yêu cả loài là thực phẩm của mình như trứng chim hải âu. Nếu là con người, anh mèo mun này sẽ là anh chàng da đen, răng trắng. Nếu là người anh chàng mèo mun này ăn chay trường. Nếu là người, anh chàng da đen này thông minh. Nếu là người anh chàng da đen này… tuyệt vời như sao trời.
Truyện hay vì mỗi nhân vật mèo là một kiểu con người. Giáo sư mèo Einstein thông thái, nhờ ham đọc. Nhà giáo sư Einstein đầy sách. Mỗi khi cần quân sư họ mèo tìm đến giáo sư. Mỗi lần cần, giáo sư tra từ điển bách khoa. Nhưng… những gì cần thật sự cần thì, thì không có trong sách. Như, làm thế nào để anh da đen có thể dạy chim hải âu bay. Khó, hơn, cả, khó, mới, thật, sự, là, khó. Tôi đọc, nhận ra điều, đó, rất, rõ.
Mèo dạy chim bay hay, hay ơi là hay, còn vì trứng chim hải âu vỡ từ bên trong. Một cuộc đời bắt đầu. Mênh mông như khơi xa. Tít tắp. Rồi chú hải âu sẽ tung bay. Thế là những thủy thủ có thêm bạn. Nếu, nếu trứng hải hâu xấu số gặp anh mèo mun tâm địa cũng như màu da của ảnh thì, ôi thôi, vỏ trứng vỡ bởi một lực bên ngoài, và. Và biết bao thủy thủ cô đơn, có thể gặp nạn vì không có hải âu báo bão. Có thể lắm, định mệnh để chị hải âu mắc váng dầu biểu của tàu tráng dầu lậu nào đó, chị được gặp anh mèo da đen. Nếu không…
Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn, phải. Đúng với, Luis nhà văn Chi Lê xa xôi tại Việt Nam này. Nhà văn một mặt khen ngợi yêu thương thực sự không phải là yêu đồng loài, mà yêu cả loài khác biệt. Mặt khác, ngài viết văn còn để chỉ rõ thảm họa hủy diệt đến từ con người. Con người vô tình, cố ý hay cả hai đã đang, sẽ hủy hoại môi trường sống tự nhiên. Nhanh thôi, họ sẽ hủy hoại môi trường sống, sẽ bức tử chính mình, gần thì bản thân, xa thì con cháu, xa hơn thì chắt chút chít.
Còn nữa…
Truyện ngắn mà đọc hoài, tài thật.
Tất cả, những con đường, những phương tiện, những người bạn, những người khổng lồ trong sách… tôi trân trọng. Xin tri ân, những gì còn lại trong tôi sau chừng ấy thời gian...



THẢ DIỀU


Hồi còn nhỏ, tôi đã được mẹ dẫn đi thả diều, mẹ nói rằng, người xưa thả diều với ý nghĩa xua đuổi những rủi ro, bệnh dịch. Mẹ nói, sau dịp tết Thanh minh, người ta thường thả diều sau khi viết vào cánh diều tên những bệnh dịch nguy hiểm và thả cho gió đẩy diều bay xa, càng xa càng tốt. Rồi sau đó, người ta cắt dây cho gió cuốn theo những xủi quẩy, bệnh tật đó đi khỏi vùng dân cư sinh sống. Bằng cách đó, người dân mong cầu cuộc sống yên bình, khỏe mạnh.
Mẹ cũng nói ngày xưa, diều còn được dùng để báo tin cho nhau.
Ngày nay, thả diều là một trò giải trí phổ biến của thiếu nhi trong những ngày gió mát, nhất là vào cuối xuân, đầu hạ. Vào dịp này, một năm học đã gần kết thúc. Trước khi vào năm học mới, các em nhỏ được chơi thỏa thích, đủ trò vui. Thả diều không những là một cách giải trí mà còn thể hiện một nét văn hóa chơi các trò chơi dân gian.
Những bậc phụ huynh khi đưa con trẻ đi sắm diều cũng hướng dẫn các em cách chọn con diều nào có ý nghĩa. Tại quán hàng đồ chơi trẻ em cạnh công viên, tôi chứng kiến một bà mẹ đã chọn cho con mình con diều có màu sắc lộng lẫy, hình con bướm. Chú bé vui vẻ: “diều của con sẽ bay cao bay xa nhất”. Người mẹ lại nói: “chơi về con cũng phải học giỏi để bay cao như diều nhé”. Chú bé rạng ngời đôi môi mọng đỏ, vài giọt mồ hôi chảy dài trên má chú vì mải mê chọn chọn cho mình một con diều ưng ý.
Tại công viên, người họa sĩ già ngồi vẽ. Một bức tranh dở vẽ dáng con diều nghiêng cánh trước nền trời xanh và mấy chú bé đang néo căng sợi dây. Bức tranh thật đẹp, màu sắc tươi tắn nhưng sao mặt người họa sĩ già đăm chiêu, vẻ như tiếc nuối quãng đời tuổi thơ của mỗi người là đẹp nhất, rực rỡ và vô tư nhất nhưng lại chóng qua. Không ai được mãi là chú nhóc mười một tuổi. Thế nên, quan tâm đến con trẻ là điều mà các bậc phụ huynh dù có bận rộn công việc đến đâu cũng nên ưu tiên đặc biệt. Trong đôi mắt của người họa sĩ, tôi đọc được điều đó.
Bên kia công viên Biên Hùng, một con diều đang gặp nạn, em bé đứng khóc. Mẹ em bảo: “nó mắc thì con phải làm sao gỡ nó ra chứ, sao lại ngồi khóc”. Và bà mẹ chỉ cho chú bé cách quay dây để gỡ rối. Bằng cách chỉ bảo và giảng giải, bà mẹ đã dạy cho con nhỏ của mình cách khắc phục khó khăn khi gặp sự cố trong cuộc sống.
Một chàng trai ngồi bên ghế đá, phía cuối công viên. Ánh mắt cậu ta đang dõi theo con diều bay xa nhất. Tôi cũng giống chàng trai này, đi công viên một mình, ngồi xem các em nhỏ chơi thôi. Tôi bắt chuyện với cậu ta, “sao cậu không đi cùng ai cho vui”, “sao có vẻ đăm chiêu thế”… Cậu ta gượng cười: “mình đã không còn bố. Những kí ức còn lại về ông trong mình chỉ còn mang máng hình ảnh ông cùng mình đi thả diều. Mình nhớ bố mình đã thả con diều giấy của mình bay rất cao, bố cũng chỉ mình cách điều khiển sợi dây nhưng mình không tài nào làm được. Với mình, cho đến bây giờ bố vẫn là người thả diều cừ nhất… Ông đã mất vì bệnh ung thư khi mình còn quá nhỏ” – cậu ngập ngừng nói.
Trước nay, tôi cứ nghĩ gió mong manh, cánh diều kia mỏng mảnh nhưng đối với một số người đó là sự hiện hữu của một số người thân khác, tôi nhận ra có những điều tưởng là mong manh lại rất vững chãi. Như con diều kia đã vững chãi như hình ảnh người cha trong lòng cậu bạn này vậy.
Một lúc sau, trời bỗng lặng gió, mấy con diều không cất được mình khỏi mặt đất. Có cậu bé ngồi khóc, người mẹ dỗ: “con ngoan, con muốn học giỏi phải có sách, có bút, có cô giáo giỏi và con siêng học… Con diều cũng vậy, muốn bay được phải chờ trời có gió mới tạo lực đẩy được chứ”. Cậu bé đưa tay gạt hàng nước mắt: “chỉ tại trời không thả gió”. “Đúng rồi, khi nào các em nhỏ đều ngoan và nghe lời người lớn thì trời mới thả gió”.
Những chiều khác, lúc rảnh tôi lại đến công viên xem thả diều. Những con diều đủ kiểu dáng, màu sắc bay cao bay thấp làm cho bầu trời gần hơn, chỉ cần với tay, như có thể chạm được nền trời. Đối với những người cha, người mẹ, nhìn các con vui chơi thỏa thích mỗi ngày lại hiểu thêm ý nghĩa của cuộc sống.
Thả diều vì vậy không chỉ là trò chơi mà còn cho ta những bài học ý nghĩa.

           






QUÁN CÓ CÂY TRỨNG CÁ






Đó là một quán nước mía, quán nằm trên đường Đồng Khởi, cạnh Sở Tài nguyên và Môi trường, thành phố Biên Hòa. Quán nước mía có cây trứng cá che bóng mát. Cây trứng cá bên quán có dáng nghiêng, đổ về bên mái quán. Cây cao khoảng bẩy mét, không cao lắm nhưng cũng không đến nỗi thấp. Cơ bản là nó có tán đủ rợp để che cho khách ngồi hóng mát hàn huyên bạn bè sau buổi tan ca c ông ty hoặc ngồi chỉ để giải khát. Thêm vào đó, bên cạnh quán, xa xa dăm mét, cả bên tả, bên hữu đều có những cây xà cừ cổ thụ đổ bóng mát cho quán thêm phần dễ chịu.

Ngồi dưới quán trứng cá dù sáng hay chiều, dù trời nắng nóng vẫn cảm nhận được cái mát lành của không khí có nhiều cây quanh cung cấp ô xi. Tôi thích thú đến quán này không chỉ vì cây trứng cá nhiều quả, có bóng, mát từ Lão Xà cừ  mà còn vì nước mía ở đây thơm ngon hơn những nơi khác. Thật vậy, quán nhập mía từ miền đất cát xứ Phan về, mía có thân tuy nhỏ, rắn nhưng ngọt. Chủ quán là một người khéo tay, sạch sẽ. Khéo tay vì nhìn cách bố trí quán nước thì biết; sạch sẽ cũng vậy. Mỗi ly nước mía ở Cây trứng cá quán đều có mùi vị đặc trưng là mùi quất. Trên đầu cây mía, chủ quán cho thêm quả quất để nguyên vỏ vào xay. Mùi quất và vị chua thanh thanh lam cho ly nước mía thơm, ngon, hấp dẫn, lại có tác dụng trị bệnh ai mà không thích.

Một lý do nữa, có thể là lý do chính đáng nhất khiến tôi chọn Cây trứng cá vì người chủ quán. Đó là một chàng thanh niên trẻ. Anh khoảng ba mươi, độc thân. Anh vốn là đứa con mồ côi. Từ miền tây lên thành phố này bán báo dạo, rồi đi đánh giày, quán Cây trứng cá này chính là “cơ ngơi” của anh gây dựng nhờ hơn hai mươi năm tích cóp bằng nghề đánh giày và bán báo. Anh nhỏ con, dáng nhanh, và da đen nhưng đôi mắt nhanh nhẹn và sâu, có lẽ chính tâm hồn anh cũng chứa những sâu thẳm như vậy, những điều sâu kín.

Khác với những quán nước mía khác chỉ có chiếc xe mía và mấy cái bàn, ghế, ly… quán Cây trứng cá có “thương hiệu” hẳn hoi và có không gian đẹp, lịch sự cộng thêm ba nhân viên phục vụ. Ngồi khoảng một tiếng đồng hồ, cũng hàng trăm khách ra vào. Ai cũng hài lòng vì nước uống và thái độ phục vụ lịch sự của quán.

Tôi có tình cảm đặc biệt với Cây trứng cá vì tôi yêu cây trứng cá. Loài quả khi chín có vị ngọt và nhiều hạt ly ti như Trứng Cá này gợi cho tôi sự liên tưởng, rằng cây trứng cá vẫn xanh tốt, rợp bóng mát và cho quả ngọt ngay trên bãi đất cằn này chính là sự “hiện thân” của anh chủ quán nước mía này. Cây trứng cá và anh chủ quán chính là sự “Đồng hiện”?.

Tất cả gợi cho tôi một sự liên tưởng đẹp. Chỉ cần một sức sống, chỉ cần một ý chí và niềm tin, hoàn cảnh nào cũng có thế khắc phục được. Cây trứng cá thỉnh thoảng lại rụng quả lộp cộp trên mái quán, mấy đứa trẻ con trong khu phố thỉnh thoảng lại ra hái quả trứng cá làm cho quán có vẻ đẹp riêng.

Nếu một lần đến đường Đồng Khởi, Biên Hòa, Đồng Nai, hãy dừng chân tại Cây trứng cá quán gọi một ly nước mía hoặc sinh tố, nhìn cây trứng cá rung rinh trong gió để thấy được sự “đồng hiện” dễ thương đó.








VIẾT CHO EM!

 23/1/2024 Mấy năm rồi tôi không viết blog. Vì tôi viết Em. Giờ em đã 4y6m tôi cảm thấy nên dành cho Em những con chữ. Nên tôi lại viết. Tôi...