Gã
lại chặt ngón tay. Lần này thì gã thề sẽ yêu người đàn bà ấy. 30 tết mà còn chặt
ngón tay thề thốt, “em là người cuối cùng”. Ờ, gã thề xong, người cuối cùng sợ
quá. Còn lại mình gã và chính gã mới chính xác là người cuối cùng. Vài hôm sau
gã ra khỏi nhà, người ta thấy ngón tay trỏ của gã băng băng trắng. Chẳng ai hỏi
han gì. Vì biết hỏi gì cũng vô duyên. Họ hỏi đủ chuyện, gã nói đủ chuyện trừ
ngón tay băng gạc trắng có vết nâu đỏ vền vện. Gã vẫn hề hề như mọi lời thề chỉ
là một cơn say. Rồi tỉnh sau mọi cơn say.
Gã
không biết đau, không ốm, không than vãn. Gã chỉ có công việc, ăn, uống no say.
Rồi thỉnh thoảng lên cơn thì tiễn một vài đốt ngón tay. Thành thử, gã là người
cùi không lây. Người làng gọi gã là gã cùi. Nhưng chẳng ai xa lánh gã, trừ vài
cô bé sinh ra vào mùa trăng nên mong manh như nắng.
Gã
độc thân. Hiện tại thôi. Tương lai còn dài. Gã từng có hai người vợ. Hai người
đều bỏ đi. Con theo mẹ hết. Chẳng đứa nào nhìn lại cha nó.
Gã
không được học chữ nào. Gã chưa từng biết đến lớp học nào. Trong cuộc nước chè
xanh mùa nông nhàn nào đó, gã kể hồi đi theo bạn vào nhà thăm cô giáo của bạn,
gã hốt nguyên ổ trứng gà đang ấp của nhà cô giáo bạn. Đó là bữa trứng gà luộc
nhớ đời. Gã bình luận thêm. Gã kể chưa xong, đã đứng dậy tớp thêm cốc chè đặc,
vừa nuốt vừa bước đi. Ước gì gã có dáng đi như trâu như bò thì nhẹ nhàng cho cuộc
đời biết mấy. Gã đi như ăn cướp, hoặc như đàn bò đang nhởn nhơ gặm cỏ bị sói rừng
ra đuổi rượt, móc đít cào ruột ra, vừa chạy vừa rống lên. Nào gã có cướp của ai
bao giờ đâu, trừ vụ trứng gà chuyện đời tự kể của gã, ai cũng biết gã thật thà.
Gã từng chạy măng trong rừng từ hồi biết đi rừng tới xế bóng. Gã luôn lao động
chân chính để nuôi thân. Gã đi đóng gạch thuê. Gã làm tất cả mọi việc, miễn có
cái no bụng. Nhưng cái miệng gã như một tai họa cho những ai theo phái văn hóa.
Không vì thế mà gã bị hắt hủi. Gã được việc, nên cứ có việc nặng, việc khó người
làng lại gọi gã. Gã chẳng bao giờ thất nghiệp. Đồng nghĩa với gã luôn có đủ ăn
no, uống say, hề hề. Đời như mơ dù có lẽ gã nằm là ngủ và ngáy chứ chẳng mơ bao
giờ?
Mỗi
lần có sự cố gì đặc biệt, gã lại chặt một vài đốt ngón tay. Ngón tay của gã mỗi
ngón còn 2 đốt. Nhìn như thằng cùi. Khốn khổ. Nhưng gã nào biết khổ. Lúc nào gã
cũng cười hề hề. Khi chạy măng, gã cũng bán được nhiều tiền nhất, vì gã có sức
khỏe, như trâu. Gã có thể gánh số măng gấp đôi người ta. Chạy măng là đi lấy
măng trong rừng sâu. Đi xa làng lắm. Đường rừng khó đi. Người khỏe mới đủ sức
đi măng. Gánh nặng. Có lần tôi đã đi theo mẹ. Tôi đã thấy người rừng. Người rừng
bận áo như lá cây, tóc dài, mặt còn hoang dại, tôi nhìn thấy từ xa người rừng
đã chạy mất. Tôi thấy hay tôi nghe người làng kể về người rừng tôi tôi tưởng tượng
ra, tôi không chắc. Nhưng có người rừng. Tôi biết. Voi rừng thỉnh thoảng còn ra
làng quật phá vườn nhà người làng mà. Chó sói bói đít bò nữa. Chuyện mới cách
nay vài chục năm thôi. Nên tôi còn mang máng.
Trở
lại với gã, người kì dị nhất làng. Vì gã to khỏe nhất. Vì gã nói to nhất. Vì gã
có ít đốt ngón tay nhất.
Gã
nói thì như chó sủa trăng, mà chó sủa trăng còn có lúc nó hụt hơi. Gã thì
không. Giọng nói của gã, vang, cao, có lực như sấm. Vì sao thế. Sinh ra gã đã
hơn người ở sức vóc. Gã đô con, khệnh khạng. Lại thêm nghề của gã, nghề đào giếng.
Mùa khô thì đào giếng. Gã chui tọt xuống giếng, xà beng, cuốc, thuổng, giây thừng,
gàu… Dụng cụ lao động của gã. Và phải đồ ăn nhiều, ngon. Lao động nặng mà. Bữa
sáng phải cơm thịt. Không cần canh. Gã chẳng ăn canh bao giờ. Bữa xế phải lòng
lợn. Loại lợn mạ gã mới thích. Bữa trưa thì rượu không thể thiếu. Gã uống như đổ.
Núc rượu. Đùng cái. Gã nói bỏ rượu. Vì sao đố ai biết được.
Thường,
đi đâu về ghé qua nhà tôi gã đều ghé vô uống nước. Cứ có gã vô ấm nước che nhẹ
như ấm không. Lại lọ mọ đi làm ấm mới nên tôi ghét gã. Nếu không vô, gã sẽ ới gọi
“Minh ơi. Sướng, no, say chưa?”. Minh là tên cha tôi. Dù cha tôi đáng tuổi anh
nhưng gã toàn kêu ngang. Với gã, vai vế là gì. Thứ tự là gì. Ai đô con hơn, rượu
núc tợn hơn là anh rồi. Nhưng với đàn bà phụ nữ gã cũng nhõng nhẽo lắm. Như
thành thói. Gã luôn gọi cha tôi tên ngang, Minh. Nhưng với mẹ tôi, gã gọi ả. Ả
Đào. Tất nhiên gã không biết ả đào là một món nghệ thuật.
Hồi
nhỏ tôi sợ gã phát khiếp. Gã mà vào nhà uống nước, nhà chỉ có mình tôi kiểu gì
gã cũng chọc. “Tối qua cha mẹ mi có ồn ào không?”. Hồi đó tôi chẳng biết ồn ào
là gì. Tôi nói “không”. “Nói phét”. “Lớn tướng rồi hậy”, vừa nói gã vừa nhìn chằm
chằm vào chỗ không phải ai cũng được phép nhìn, gã làm tôi phát khiếp. Từ đó
tôi cứ nghe tiếng gã trong nhà là tôi không dám về nhà. Dù đó là nhà tôi. Nếu
tôi ở trong nhà, gã vào đột ngột, uống nước ngoài hiên nhà dưới là tôi tịt luôn
trong nhà, cho đến khi gã ra về, mà tôi đoán gã đi khỏi rặng tre cuối cùng của
vườn nhà tôi. Tôi sợ gã như người ta sợ cùi.
Lần
nọ gã đào giếng cho nhà tôi. Gã như bắt được mạch nước. Chỗ nhà tôi ở cao. Chân
một quả đồi. Địa hình trung du miền núi, kiếm ra mạch nước đã khó. Kiếm được mà
mạch nước đủ nguồn nước cho cả mùa khô thì thật khốn khó. Nhưng cả khu đó chỉ
có nhà tôi có mạch nước muôn thuở ấy. Vì gã ngửi được mùi mạch chủ. Những nhà
xung quanh thợ khác đào. Gã chỉ lắc đầu. Nhổ bọt miếng rồi đi. Gã lại đi như ăn
cướp. Nhưng nào gã cướp của ai bao giờ.
Khi
đào giếng cho nhà tôi, từ tối qua, cha tôi đã dặn mẹ sáng đi chợ, nhớ đi sớm,
mua 5 kí lô bánh mướt, 2 kí lô lòng, chủ yếu là dồi. Đoạn ruột già. 3 lít rượu
mạnh, thuốc lào nhà ông Biên. Gã hút độc thuốc lào Vĩnh Bảo đó. Mẹ tôi “gớm” một
cái như dài cả kilomet. Cha tôi nói “nó ăn uống như Hecquyn. Mẹ mày sẽ thấy
thôi”.
Sáng
sớm, mới 7h gã tới. “Có chi ăn không ả Đào. Tối qua chén một nồi cơm với cà muối,
giờ đói qúa”. Mẹ tôi nói “chờ chút” rồi kêu tôi soạn bữa sáng cho gã. Tôi lấm
lét như mèo con. Một đôi đũa, một chén ăn cơm. Một dĩa bánh cuốn, một muỗng nước
mắm vô chén nhỏ. “Bé con cho chú cái tô. Chai nước mắm”. Nói rồi chú ra góc vườn
nhổ một cây ớt chuột vô. Tôi nhìn phát khiếp. Loáng cái, tôi mới rửa xong nắm
chè xanh để làm nước thì gã đã ăn gần xong bữa. Thực ra tôi cũng hơi ngoa, vì
tôi rửa nắm chè xanh thì nhanh mà chơi với mấy cái hoa chè trắng ngọc ngà thì
nhiều, nên chậm. Cây ớt chuột gã nhổ cả gốc vào đã chỉ còn trơ trụi lá. Chẳng
còn quả nào. Ít nhất hai chục trái ớt. Tôi nhìn mẹ tôi, mẹ tôi nhìn cha tôi.
Cha tôi a hèm sai vặt mẹ con tôi sau khi nói “tối qua tao đã bảo mẹ mày rồi
mà”.
Loáng
cái, 9h sáng. Tôi vừa đi xin sả ở nhà bà ngoại về thì ối thôi, một đống đất
đen, đỏ, cùng lởm chởm sỏi đã thành cồn. Tôi tưởng có máy ủi ủi đống đất kia.
Không, mình gã và hai bàn tay to xù thô kệch của gã thôi. 10h, mẹ tôi vừa vặt
lông con gà mái mơ xong gã đã lên đòi điểm tâm. 3 gói mì tôm Tân Bình, lớp bao
trong có bóng, lớp bao ngoài là giấy báo. Đó là loại mì gói ngon nhất thời đó.
Khoảng hơn chục năm trước. Gã húp mì chùn chụt. Gã đưa tay quẹt mồ hôi. Nào có
áo. Gã ở truồng. Bụi đất trên tay vây hết cả mặt gã, trông gã như diễn viên
hài. Nhưng tôi nào dám cười, tôi trộm nhìn gã qua ô cửa sổ đã bị mưa dột làm
cho khuyết một góc gỗ vì nước. Mẹ tôi bỏ một lớp củ sả xuống dưới đít nồi, bỏ
con gà lên, rồi một lớp lá chanh ở trên thân con gà. Mẹ đổ nước vô. Bắt đầu bắc
lên bếp. Gà vừa chín. Xôi vừa dậy mùi, mẹ bỏ lá cơm nếp vô cho thơm. Mùi bữa
trưa gã đã đánh mùi được. Gã kêu lên từ dưới miệng giếng, chắc độ khoảng 20 m
“Trời ơi, mùi chi mà thơm khủng khiếp”.
Gã như được tiếp sức. Tiếng vang của giọng gã, tiếng dội vào không gian
giếng, tiếng của cây ròng rọc quay để hốt đất gã đào dưới sâu lên như vang vào
tiếng chó sủa khách lạ. “Chị ơi bán mít không”. “Bán chác gì, thích trái nào
cho trái đó”. Mẹ tôi vốn hay cho người miền xuôi, họ lam lũ hơn nhà nông chúng
tôi. Họ dân chài, đổi cá, đổi muối. Họ thồ hàng bằng xe đạp mà nhìn cái tôi muốn
té bẹp dí.
Dưới
giếng, gã vọng lên. “Đổi cái ấy không em ơi, anh đổi cho”.
Gã
kêu lên. Kéo đất nhanh lên, nghe ẩm rồi. Khoảng chục mét nữa là tới mạch”. Mừng
rơn. Mẹ tôi nói “Thật hả, tôi cứ tưởng chỗ này không có mạch nước”, “ả coi thường
tui quá”. Đống đất trên mặt đất đã chất như một quả đồi. Tôi thích thú với màu
đất mới, màu vàng. Tôi chưa từng thấy đất nào trong vườn nhà mình lại có màu ngọt
vậy. Thôi tính lấy một nắm để dành chơi.
Đến
chiều, đất đen, pha nâu, ướt, mát, mịn. Đất thật kì diệu. “Ở dưới đó đất đẹp ri
à chú Phương”, tôi thích thứ đất này quá, nên quên hết cả sợ hãi chú Phương.
“Nhờ mày mà tao nhớ tao còn có một cái tên đó”. Chú Phương, tên gã. Tôi nói với,
âm thanh vọng xuống đáy giếng rồi dội lại những gì tôi nói theo một giọng khác
“cháu muốn xuống đó chơi”, “dưới này có ma đấy”. Vậy thôi, giọng tôi buồn thiu.
“Nhưng tao có cái này cho mày này”. Nói rồi cha tôi kéo ròng rọc lên. Lần này
trong thùng không phải là đất như những lần trước, là một trái lựu đạn. Chẳng
phải nhà tôi ngoài vườn còn nhiều cái hầm đó sao. Đó là chiến địa một thời. Một
trái lựu đạn chết. Cha tôi cũng biết nó đã điếc. An toàn cho tôi.
Món
quà đó, tôi còn cất giữ như một kỉ niệm. Bao nhiêu người đã chia lìa vì trái lựu
đạn này.
Đêm
đó, tôi mơ tôi xuống đáy giếng, một đường hầm nhỏ, nhưng mát lạnh đưa tôi đến
thế giới khác, cuộc sống khác dưới lòng đất. Đó là những cô gái, chàng trai trẻ
đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất, họ mãi ở lại đó. Tôi chỉ cho họ đi theo con
đường tôi vừa đi, sẽ trở về được, họ nói “nhưng chẳng ai còn nhận ra chúng tôi
nữa”. Sáng, tôi dậy sớm, tôi lên nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào, nơi dãy mộ Vô
Danh. Tôi quỳ gối!
Tôi
không còn sợ chú Phương đào giếng nữa. Vì chú đã nói thật “dưới này có ma đấy”.
Chú thô, chú khùng khùng là tự làm mình đau, chặt cả ngón tay, chú không biết
xưng hô có văn hóa, đúng thứ bậc, chú ăn và đi đứng, uống và ngủ nghỉ như trâu
bò. Nhưng mà chú đã nói thật nên tôi không còn sợ nữa. Con người nói thật thì họ
không đáng sợ. Vì sự thật dù trần trụi đến đâu cũng không đáng sợ.
-
Chú kể cho cháu về những người dưới giếng
đi. Họ nói gì với chú?
-
Có chó nào dưới đó đâu. Tao dọa mày
thôi. Con gái xuống sâu dưới giếng mày ngột không thở được đâu.
-
Chú nói láp.
-
Tao nói láp thì trời đánh.
Hồi
đó, sau món quà là quả lựu đạn câm, sau giấc mơ tôi xuống giếng gặp những chàng
trai cô gái trẻ mặc áo đồ bộ đội, vai đeo palo. Sau những chất vấn tôi hỏi chú
Phương đào giếng, tôi lại nghĩ: Chẳng có chú Phương nào hết. Vẫn là gã đào giếng,
say say, chán đời và yêu đời đều chặt ngón tay đó thôi.
Giờ,
vài chục năm đã qua, tôi không còn là cô bé nữa. Tôi gọi chú Phương. Chẳng có
gã say nào hết. Chú Phương đào giếng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét