Mặt đất nào cũng chứa những tầm cao
Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019
VIẾT CHO EM
Mẹ hong khô những chiếc khăn nhỏ xíu xìu xiu của em
Nhưng mà mẹ mong em một tình yêu lớn lao
Mẹ hong khô những chiếc áo nhỏ xíu xìu xiu của em
Nhưng mà mẹ mong em sống cuộc như núi cao
Thứ Tư, 6 tháng 3, 2019
HÀNG XÓM
Ngôi
nhà mái tôn vô chủ cạnh nhà tôi bỗng một hôm có chủ. Họ là một gia đình.
Chị
làm nghề móc, đan, dệt len. Sản phẩm chị làm ra thường là: khăn, áo, mũ… Có cả
kiểu áo khoác ngoài màu xám hồi còn là nữ sinh chúng tôi đã mặc, nữ sinh Đà Lạt
bây giờ vẫn mặc.
Anh
làm thợ hồ. Sáng sớm anh đi, có khi trưa hoặc tận tối mới về. Tèo là con lớn
của anh chị, khoảng hai tuổi. Ngoài ba cha con mẹ con họ còn có thêm đứa bé đã
gần đến ngày chào đời trong bụng chị. Nhà chị còn có mấy người con trai tuổi
thanh niên ở cùng, hình như là anh em đằng nội, vì cu Tèo gọi mấy người này là
chú Nam ,
chú Bắc.
Họ
không phải là dân Đà Lạt, vợ chồng tôi ở đây được năm tháng thì họ đến. Bình
thường chúng tôi ít giáp mặt họ, vì chúng tôi đi làm giờ hành chính, còn họ đi
từ sáng sớm tới tối mịt mới về, có lẽ họ phải đi làm rất xa. Trừ chị, cứ nghe
tiếng quay sợi dột soạt là tôi biết chị đang làm việc, rồi nhìn qua cửa sổ là
chỗ chị làm việc, thỉnh thoảng chị mang sản phẩm ra phơi, hôm nhiều hàng dây
sào của nhà chị mắc tạm bên hàng rào không đủ chỗ, chị mắc ra cả dãy khắp hàng
rào bằng sắt trước nhà tôi. Có vẻ như chị thích phơi ở đó hơn vì nó chắc chắn
hơn bên dây nhà chị?.
***
Hàng tháng, có khi đến ba chủ nhật
những người đàn ông trong ngôi nhà đó nghỉ làm. Họ nhậu. Có sáng sớm, nghe
tiếng chó ăng ẳng, một loạt tiếng ỳ xèo của quạt, tiếng lá reo ầm ngoài khoảng
đất trống bên hẻm ngăn cách nhà tôi với nhà họ. Nghe mùi khét rồi tiếng chặt
cốp cốp, sau đó thì cả khu dậy lên mùi thịt cầy. Thế là chủ nhật của vợ chồng
tôi tiêu tan bởi tiếng ồn ào của giọng rượu lè nhè như cái loa phát cả ngày người
nói chẳng có người nghe. Một hôm khác, cách đó có mấy ngày lại thấy họ kiếm củi
thông đâu về đốt lên khét lẹt. Họ đang chuẩn bị thịt một con ngan to chắc đến
bốn kí lô. Rồi lại tiếng ồn ào, chén chú chén anh hết trưa sang chiều, tối lại
tiếp tục chén tối với tiếng hát nghêu ngao hòa trong tiếng nói như quát. Chồng
tôi nói: “hay là mình nhắc khéo họ em,
anh thấy ồn ào quá”. “Thôi mà anh, cả
tuần họ mới được bữa thoải mái, kệ họ đi. Chắc họ là dân miền biển nên ăn to
nói lớn đó”. Thế rồi “choeng, xoành…
mày láo vừa thôi. Tao đi làm cả tuần rồi có bữa chủ nhật anh em chú bác gặp
nhau nhậu tí cũng không được à”. Có vẻ như chị vợ cũng nói gì đó để anh nổi
đóa lên vậy. Lời qua tiếng lại anh em, mày tao rồi đến đồ con lợn… ỏm cả con
hẻm. Mấy đứa trẻ con quanh đó đều vén rèm lên, nhưng có vẻ như không nhà nào mở
cửa. Tiếng khóc của người phụ nữ, tiếng đứa trẻ con ré lên, tiếng loạng choạng
của xong nồi lúc một lớn. Bác trưởng khu phố chạy qua, “có giải tán đi không. Ồn ào quá. Không nghe tôi gọi 113 đó”. Anh
chủ nhà nói: “Đây là nhà tôi nhé, tôi
thích nói, cười làm gì mặc tôi”. Bác trưởng khu phố tiếp: “Nhưng các anh làm ồn ào cả khu phố, sống sao
đừng ảnh hưởng đến người khác chứ. Đây
là thành phố chứ có như ở quê các anh đâu mà thích làm gì thì làm”.
Anh chủ nhà mặt đỏ như gấc chín, đặt
chén rượu cái xạch trên chiếc mâm nhôm trắng đứng dậy lớn tiếng: “Rượu nhà tôi tôi uống. Tôi ăn cơm gạo nhà
tôi, thịt chó nhà tôi đấy. Ông tưởng tôi đi trộm chó à. Là tiền tôi đi làm thợ
hồ đấy. Tôi không có chữ thì tôi bán sức kiếm tiền, chứ tôi không xin xỏ ai,
không ăn cắp nhé”. Vừa nói anh vừa trừng mắt nhìn, bàn tay nắm chặt nắm đấm
dứ dứ vào bác trưởng khu phố giọng điệu thô lỗ: “lão già già mồm, biến”. Chị nước mắt ngắn dài vỗ vỗ vào lưng cu
Tèo. Cái bụng đã chảy xuống như sắp đến ngày vượt cạn. Ai cũng ái ngại nhưng
biết mấy người đã ngà và say nên chẳng ai nói thêm gì.
Chồng tôi dễ tính nhưng cũng phàn
nàn lên xuống, tuy chỉ nói với tôi: “Giá
cứ được yên tĩnh như mấy tháng đầu vợ chồng mình mới về ở đây nhỉ”, tôi
chọc: “ai bảo anh chọn đất ở đây, không
chịu đi… xem Thầy gì cả”. “Em nhé,
thế mai em xem Thầy về chỉ cho anh cách giải quyết vấn đề ồn ào mất trật tự này
đi”. “Được đó, em đã bảo Thầy cái gì
cũng biết mà”. “Thế em hỏi Thầy làm
sao sinh con gái đi nhé? Phải chắc chắn đó, các nhà Giới Tính Học dự đoán năm
2025 nước mình một gái lấy được 2 chồng đấy. Anh muốn…”. “Có anh chính là nhà Giới Tính Học ấy”,
tôi nói thầm vào tai chồng làm cho anh thích thú và làm cho tôi hết chọc luôn,
hai vợ chồng lại quay qua thì thầm những chuyện làm sao sinh con gái, làm sao…
và làm sao…
Chồng
tôi cũng là người ham vui, anh ấy thỉnh thoảng mời bạn đến nhà làm cái tiệc nhỏ
dịp ngày lễ hay cuối tuần. Chỉ đủ vui cho hai vợ chồng trẻ như chúng tôi và
những người khách thân tình. Nhưng thấy nhà bên nhậu vào lời ra sinh to chuyện
anh cũng từ bỏ mất thói quen tốt đó. Nhà tôi đã vắng còn vắng thêm. Một hôm
đang quét sân thì cu Tèo chạy qua nhà tôi, đứng ngoài cửa nhìn vào nhà tôi đầy
thích thú. Tôi mời cu Tèo vào. Nhóc vào thật, chơi được một lát nhóc đòi về,
tôi bế cháu về. Qua nhà thấy chị gầy nhom, xanh xao đang đan áo. Chị bảo: “cu Tèo nó dạn lắm, thấy nhà ai mở cửa là nó
vào à. Nó thích đi chơi nhưng vợ chồng chị bận quá em ạ”. Nhìn chị vừa nói chuyện tay
vừa liến thoắng luồn những sợi len vào kim đan một cách thành thạo tôi lấy làm
thích thú. Nói chuyện với chị một lúc tôi thấy chị hiền lành, tốt tính chỉ có
điều khó khăn mọi mặt. Tôi mua cho mình một lốc len, bảo sẽ nhờ chị chỉ cho
cách đan áo cho con, vợ chồng tôi dự định sang năm cũng sinh con đầu lòng. Lòng
tôi còn bao dự định…
Ngày chủ nhật tiếp đó, tôi ngủ dậy
trễ, tính qua nhà chị hàng xóm nhờ chỉ cho cách đan len thì nghe tiếng kêu rên
từ phía nhà chị. Chạy qua, chị đang nằm ôm bụng dưới nhà, vừa kêu từng tiếng
như khóc: “giúp tôi với”, chị vừa ôm
bụng. Lúc tôi co chân chạy, vừa chạy về nhà vừa kêu chồng, vài phút sau mấy
người quanh xóm có nhà đều chạy qua nhà chị. Mọi người đang loay loay lấy xe
chở chị đi bệnh viện thì tiếng khóc oe oe của trẻ nhỏ. Một bé gái xinh xắn đã
chào đời tại căn nhà mái tôn cũ kĩ này. Một thế giới nhỏ lại bắt đầu từ cái thế
giới không mấy rỗng rãi, không mấy mát mẻ này. Tiếng lá thông vẫn rơi lộp cộp
trên mái tôn nhà chị. Một bà già có kinh nghiệm ở lại với chị và cháu, còn mọi
người về hết. Đứa trẻ ra đời như vậy. Nó nhìn cái thế giới xung quanh khác thế
giới trong bụng mẹ bằng đôi mắt nhắm nghiền. Không biết, nhỏ xíu thấy được
những gì, chắc nhỏ xíu cũng thấy được nụ cười gượng gạo trên môi mẹ nó?.
Hôm đó về chồng tôi lại trêu tôi: “sau này anh cũng chẳng phải lo gì, em ở nhà
thích sinh lúc nào thì cứ tự sinh như chị Nhàn vậy”, “Em mà cần gì bệnh viện hay khoa học tiên tiến, thầy đỡ giỏi em cũng
không cần. Con em thích ra với ba mẹ lúc nào là nó ra nên anh tha hồ mà sướng
nhé. Em cũng được mẹ sinh rớt ngay trên bờ ao lục bình, lúc bà đang hái rau lợn
nên đặt tên em là Thủy đó”. “A, anh
biết rồi, Thủy thủy chung, màu tím hoa Lục Bình… ý mẹ em là vậy”. “Còn có bí mật về tui nữa đó, không nói cho
ông biết đâu. Để sau có người tình tôi kể cho anh ta…”. “Ồ, được đấy, bà tưởng mỗi mình bà là có tình
nhân à. Tôi đây, còn có thể có cả hai ba tình nhân đó. Trinh Công Sơn còn có:
Biển một bên và em một bên đó…”. Vợ chồng tôi vẫn vui vẻ với nhau như những
đôi bạn thân vậy. Chị sinh được tròn một tháng thì chị lại trở lại với việc
đan, móc lúc con ngủ. Chị cũng đội nón ra vạt đất trước nhà trồng mấy hạt rau. Không
như phụ nữ thành phố chúng tôi, mà sinh là ở cữ cả ba tháng, không động chân
tay vào việc gì cả. Chị nói: “ở quê sinh
xong dậy giặt đồ là bình thường, nhiều người còn ra đồng nữa. Chị ở nằm ổ cả
tháng cũng thấy ngứa tay ngứa chân lắm”. Chồng chị vẫn đi làm về muộn, các
chú Nam
chú Bắc vẫn ở nhà chị. Chị ở nhà vẫn lo cơm nước cho họ. Nhà có trẻ con mà
thỉnh thoảng vẫn tiếng ồn ào, tiếng nói to như cãi nhau vậy. Có lẽ chị cũng
quen với tiếng ồn đó, cháu bé cũng đã quen với sự ồn ào như vậy từ lúc chưa
chào đời hay sao mà ngoan, không nghe khóc nhè bao giờ.
Hôm khác lại tiếng chó ăng ẳng,
tiếng nói cười và cả tiếng cọc cạch của dao, thớt. Hôm đó là đầy tháng cháu
nhỏ. Họ có mời vợ chồng tôi, nhưng tôi lấy cớ hai vợ chồng đi đám cưới đứa bạn
thân, tối mới về, về muộn vợ chồng sẽ sang sau. Thực ra biết ở nhà ồn, vợ chồng
tôi rủ nhau ra khách sạn nghỉ, với lại chồng tôi cũng muốn ôn lại kỉ niệm ngày
đầu quen nhau. 7h tối về thì nghe bên nhà tiếng ồn ào cãi cọ: “Tao không trộm chó nhà mày nhé. Chó tao mua
ngoài quán, không tin ra tao chỉ cho mà hỏi nhé. Mà hỏi đúng thì tao cho mày ăn
Cơm Chó luôn. Con m… mày”. “Đồ ăn
tục, ăn b…ẩ…n nói phét. Hẻm này chưa bao giờ mất chó cả, nhà mày về hết vụ gà
rồi chó, rồi sẽ mất cả xe, cả người cho mà coi”. “Bọn này trộm chó nhà mày rồi làm thịt khác gì… lạy ông con ở bụi này.
Mày ngu vừa thôi chứ”. “Ờ… thì bọn
mày mặt dày…”.
Sau mấy vụ mất vặt trong hẻm chồng
tôi đâm cảnh giác. Anh bảo: “tốt nhất là
cẩn thận, không tin được ai đâu em ạ. Với lại anh cũng ngờ ngợ. Trước đây hẻm
mình có mất cắp gì đâu”. Tôi cũng sợ, biết đâu một ngày đi làm về các ổ
khóa đều bị bẻ hết; biết đâu tôi đang nấu ăn trong bếp, chồng tắm trong nhà
tắm, cửa thì không đóng có người mò vào nhà rồi… Tôi khóa hết cửa.
Sáng sau tôi dậy trễ nên đi làm sau.
Tôi khóa cửa đi khóa lại mấy vòng rồi lại kiểm tra xem đã khóa kĩ chưa. Ra cổng,
tôi cũng cặm cụi tỉ mẩn khóa từng vòng cửa cổng. Tôi loay hoay làm rơi khóa,
chiếc túi xách trên vai rơi xuống cánh tay cản trở việc tôi làm. Tôi đành treo
chiếc túi vào cửa để khoa cho thoải mái, cẩn thận. Rồi tôi kiểm tra lại thấy đã
khóa hai ổ khóa cửa cổng chắc chắn, tôi lên xe phóng nhanh kẹo trễ giờ. Tới chỗ
làm chực nhớ đến chiếc túi xách của mình. Tôi hú hồn, mất rồi, chạy về cũng
không kịp nữa. Dù biết cả gần ba mươi phút rồi, người qua lại nhiều, sẽ không
còn nữa nhưng nghĩ đến hai mươi triệu tiền thưởng của khoa giao cho tôi cầm để
phát cho thầy cô ngày nhà giáo tôi lao một mạch về nhà. Tôi hy vọng không ai để
ý đến chiếc giỏ màu vàng, treo trên cửa cổng nhà tôi. Tôi lao xe chưa bao giờ
nhanh hơn thế.
***
Chiếc xe phanh cái kít trước cổng,
tôi kêu lên: “trời ơi, làm sao đây. Lấy
tiền đâu mà phát cho các thầy cô trong khoa đây. Trời ơi, làm văn thư lương
tháng bốn triệu, mất cả nửa năm làm không công rồi…”. Tôi tái mặt đứng như
trời trồng trước cổng nhà mình. Như nghe tiếng xe đỗ lại, đoán biết tôi về chị
Nhàn (tên chị) nhà bên bế đứa nhỏ chạy qua: “em về đấy ạ. Em tìm cái túi phải không. Nó đây này. Lúc nãy chồng chị
ngủ quên, đi làm muộn, ra đường bắt được cái túi treo trước nhà, biết là của em
nên anh đưa về bảo chị: trưa về đưa cho em. Ảnh còn nói đùa chắc toàn son với
phấn trong nên bảo chị đừng có mở ra xem
kẻo không biết mở lại làm hỏng khóa thì tội cô ấy”. Đây, chị để trong nhà
mang ra cho em đây, cũng chưa mở ra xem đâu, em không cần kiểm tra gì đâu. Thôi
chị vào nhà đây, chị đang ăn dở tô mì, kẻo sình hết rồi.
Nói rồi chị vội vã đi vào, tôi chỉ
kịp nói với theo: “Cảm ơn anh chị. Em…”.
Tôi lên khoa dự lễ muộn, thầy trưởng
khoa phê bình ngay tại trận. Tôi đành đứng dậy, kể lại câu chuyện này. Phía
dưới, có nhiều lời xì xào. Tôi nghe một người nói: “Đời không nhiều tấm lòng vậy đâu, số Thủy còn may đấy”. Tôi cũng
tin vậy.
Tối đó vợ chồng tôi qua nhà anh chị
chơi để cảm ơn. Họ nói: “Tiện đây nhà tôi
cũng chào hai người luôn. Sáng mai nhà tôi chuyển qua bên hẻm Cụt. Bên đó giá
phòng rẻ hơn, lại gần chỗ làm. Tiện”. Vợ chồng tôi nhìn nhau ấp úng: “Nhà anh chị chuyển đi thật à, tiếc quá”.
Lòng tôi chênh chao, luyến tiếc phải dã biệt một hàng xóm tốt.
Đêm
đó, cả hai vợ chồng tôi đều trằn trọc mãi, vì còn có người tốt vẫn phải sống
thiếu thốn và bị xem thường.
GÃ ĐÀO GIẾNG
Gã
lại chặt ngón tay. Lần này thì gã thề sẽ yêu người đàn bà ấy. 30 tết mà còn chặt
ngón tay thề thốt, “em là người cuối cùng”. Ờ, gã thề xong, người cuối cùng sợ
quá. Còn lại mình gã và chính gã mới chính xác là người cuối cùng. Vài hôm sau
gã ra khỏi nhà, người ta thấy ngón tay trỏ của gã băng băng trắng. Chẳng ai hỏi
han gì. Vì biết hỏi gì cũng vô duyên. Họ hỏi đủ chuyện, gã nói đủ chuyện trừ
ngón tay băng gạc trắng có vết nâu đỏ vền vện. Gã vẫn hề hề như mọi lời thề chỉ
là một cơn say. Rồi tỉnh sau mọi cơn say.
Gã
không biết đau, không ốm, không than vãn. Gã chỉ có công việc, ăn, uống no say.
Rồi thỉnh thoảng lên cơn thì tiễn một vài đốt ngón tay. Thành thử, gã là người
cùi không lây. Người làng gọi gã là gã cùi. Nhưng chẳng ai xa lánh gã, trừ vài
cô bé sinh ra vào mùa trăng nên mong manh như nắng.
Gã
độc thân. Hiện tại thôi. Tương lai còn dài. Gã từng có hai người vợ. Hai người
đều bỏ đi. Con theo mẹ hết. Chẳng đứa nào nhìn lại cha nó.
Gã
không được học chữ nào. Gã chưa từng biết đến lớp học nào. Trong cuộc nước chè
xanh mùa nông nhàn nào đó, gã kể hồi đi theo bạn vào nhà thăm cô giáo của bạn,
gã hốt nguyên ổ trứng gà đang ấp của nhà cô giáo bạn. Đó là bữa trứng gà luộc
nhớ đời. Gã bình luận thêm. Gã kể chưa xong, đã đứng dậy tớp thêm cốc chè đặc,
vừa nuốt vừa bước đi. Ước gì gã có dáng đi như trâu như bò thì nhẹ nhàng cho cuộc
đời biết mấy. Gã đi như ăn cướp, hoặc như đàn bò đang nhởn nhơ gặm cỏ bị sói rừng
ra đuổi rượt, móc đít cào ruột ra, vừa chạy vừa rống lên. Nào gã có cướp của ai
bao giờ đâu, trừ vụ trứng gà chuyện đời tự kể của gã, ai cũng biết gã thật thà.
Gã từng chạy măng trong rừng từ hồi biết đi rừng tới xế bóng. Gã luôn lao động
chân chính để nuôi thân. Gã đi đóng gạch thuê. Gã làm tất cả mọi việc, miễn có
cái no bụng. Nhưng cái miệng gã như một tai họa cho những ai theo phái văn hóa.
Không vì thế mà gã bị hắt hủi. Gã được việc, nên cứ có việc nặng, việc khó người
làng lại gọi gã. Gã chẳng bao giờ thất nghiệp. Đồng nghĩa với gã luôn có đủ ăn
no, uống say, hề hề. Đời như mơ dù có lẽ gã nằm là ngủ và ngáy chứ chẳng mơ bao
giờ?
Mỗi
lần có sự cố gì đặc biệt, gã lại chặt một vài đốt ngón tay. Ngón tay của gã mỗi
ngón còn 2 đốt. Nhìn như thằng cùi. Khốn khổ. Nhưng gã nào biết khổ. Lúc nào gã
cũng cười hề hề. Khi chạy măng, gã cũng bán được nhiều tiền nhất, vì gã có sức
khỏe, như trâu. Gã có thể gánh số măng gấp đôi người ta. Chạy măng là đi lấy
măng trong rừng sâu. Đi xa làng lắm. Đường rừng khó đi. Người khỏe mới đủ sức
đi măng. Gánh nặng. Có lần tôi đã đi theo mẹ. Tôi đã thấy người rừng. Người rừng
bận áo như lá cây, tóc dài, mặt còn hoang dại, tôi nhìn thấy từ xa người rừng
đã chạy mất. Tôi thấy hay tôi nghe người làng kể về người rừng tôi tôi tưởng tượng
ra, tôi không chắc. Nhưng có người rừng. Tôi biết. Voi rừng thỉnh thoảng còn ra
làng quật phá vườn nhà người làng mà. Chó sói bói đít bò nữa. Chuyện mới cách
nay vài chục năm thôi. Nên tôi còn mang máng.
Trở
lại với gã, người kì dị nhất làng. Vì gã to khỏe nhất. Vì gã nói to nhất. Vì gã
có ít đốt ngón tay nhất.
Gã
nói thì như chó sủa trăng, mà chó sủa trăng còn có lúc nó hụt hơi. Gã thì
không. Giọng nói của gã, vang, cao, có lực như sấm. Vì sao thế. Sinh ra gã đã
hơn người ở sức vóc. Gã đô con, khệnh khạng. Lại thêm nghề của gã, nghề đào giếng.
Mùa khô thì đào giếng. Gã chui tọt xuống giếng, xà beng, cuốc, thuổng, giây thừng,
gàu… Dụng cụ lao động của gã. Và phải đồ ăn nhiều, ngon. Lao động nặng mà. Bữa
sáng phải cơm thịt. Không cần canh. Gã chẳng ăn canh bao giờ. Bữa xế phải lòng
lợn. Loại lợn mạ gã mới thích. Bữa trưa thì rượu không thể thiếu. Gã uống như đổ.
Núc rượu. Đùng cái. Gã nói bỏ rượu. Vì sao đố ai biết được.
Thường,
đi đâu về ghé qua nhà tôi gã đều ghé vô uống nước. Cứ có gã vô ấm nước che nhẹ
như ấm không. Lại lọ mọ đi làm ấm mới nên tôi ghét gã. Nếu không vô, gã sẽ ới gọi
“Minh ơi. Sướng, no, say chưa?”. Minh là tên cha tôi. Dù cha tôi đáng tuổi anh
nhưng gã toàn kêu ngang. Với gã, vai vế là gì. Thứ tự là gì. Ai đô con hơn, rượu
núc tợn hơn là anh rồi. Nhưng với đàn bà phụ nữ gã cũng nhõng nhẽo lắm. Như
thành thói. Gã luôn gọi cha tôi tên ngang, Minh. Nhưng với mẹ tôi, gã gọi ả. Ả
Đào. Tất nhiên gã không biết ả đào là một món nghệ thuật.
Hồi
nhỏ tôi sợ gã phát khiếp. Gã mà vào nhà uống nước, nhà chỉ có mình tôi kiểu gì
gã cũng chọc. “Tối qua cha mẹ mi có ồn ào không?”. Hồi đó tôi chẳng biết ồn ào
là gì. Tôi nói “không”. “Nói phét”. “Lớn tướng rồi hậy”, vừa nói gã vừa nhìn chằm
chằm vào chỗ không phải ai cũng được phép nhìn, gã làm tôi phát khiếp. Từ đó
tôi cứ nghe tiếng gã trong nhà là tôi không dám về nhà. Dù đó là nhà tôi. Nếu
tôi ở trong nhà, gã vào đột ngột, uống nước ngoài hiên nhà dưới là tôi tịt luôn
trong nhà, cho đến khi gã ra về, mà tôi đoán gã đi khỏi rặng tre cuối cùng của
vườn nhà tôi. Tôi sợ gã như người ta sợ cùi.
Lần
nọ gã đào giếng cho nhà tôi. Gã như bắt được mạch nước. Chỗ nhà tôi ở cao. Chân
một quả đồi. Địa hình trung du miền núi, kiếm ra mạch nước đã khó. Kiếm được mà
mạch nước đủ nguồn nước cho cả mùa khô thì thật khốn khó. Nhưng cả khu đó chỉ
có nhà tôi có mạch nước muôn thuở ấy. Vì gã ngửi được mùi mạch chủ. Những nhà
xung quanh thợ khác đào. Gã chỉ lắc đầu. Nhổ bọt miếng rồi đi. Gã lại đi như ăn
cướp. Nhưng nào gã cướp của ai bao giờ.
Khi
đào giếng cho nhà tôi, từ tối qua, cha tôi đã dặn mẹ sáng đi chợ, nhớ đi sớm,
mua 5 kí lô bánh mướt, 2 kí lô lòng, chủ yếu là dồi. Đoạn ruột già. 3 lít rượu
mạnh, thuốc lào nhà ông Biên. Gã hút độc thuốc lào Vĩnh Bảo đó. Mẹ tôi “gớm” một
cái như dài cả kilomet. Cha tôi nói “nó ăn uống như Hecquyn. Mẹ mày sẽ thấy
thôi”.
Sáng
sớm, mới 7h gã tới. “Có chi ăn không ả Đào. Tối qua chén một nồi cơm với cà muối,
giờ đói qúa”. Mẹ tôi nói “chờ chút” rồi kêu tôi soạn bữa sáng cho gã. Tôi lấm
lét như mèo con. Một đôi đũa, một chén ăn cơm. Một dĩa bánh cuốn, một muỗng nước
mắm vô chén nhỏ. “Bé con cho chú cái tô. Chai nước mắm”. Nói rồi chú ra góc vườn
nhổ một cây ớt chuột vô. Tôi nhìn phát khiếp. Loáng cái, tôi mới rửa xong nắm
chè xanh để làm nước thì gã đã ăn gần xong bữa. Thực ra tôi cũng hơi ngoa, vì
tôi rửa nắm chè xanh thì nhanh mà chơi với mấy cái hoa chè trắng ngọc ngà thì
nhiều, nên chậm. Cây ớt chuột gã nhổ cả gốc vào đã chỉ còn trơ trụi lá. Chẳng
còn quả nào. Ít nhất hai chục trái ớt. Tôi nhìn mẹ tôi, mẹ tôi nhìn cha tôi.
Cha tôi a hèm sai vặt mẹ con tôi sau khi nói “tối qua tao đã bảo mẹ mày rồi
mà”.
Loáng
cái, 9h sáng. Tôi vừa đi xin sả ở nhà bà ngoại về thì ối thôi, một đống đất
đen, đỏ, cùng lởm chởm sỏi đã thành cồn. Tôi tưởng có máy ủi ủi đống đất kia.
Không, mình gã và hai bàn tay to xù thô kệch của gã thôi. 10h, mẹ tôi vừa vặt
lông con gà mái mơ xong gã đã lên đòi điểm tâm. 3 gói mì tôm Tân Bình, lớp bao
trong có bóng, lớp bao ngoài là giấy báo. Đó là loại mì gói ngon nhất thời đó.
Khoảng hơn chục năm trước. Gã húp mì chùn chụt. Gã đưa tay quẹt mồ hôi. Nào có
áo. Gã ở truồng. Bụi đất trên tay vây hết cả mặt gã, trông gã như diễn viên
hài. Nhưng tôi nào dám cười, tôi trộm nhìn gã qua ô cửa sổ đã bị mưa dột làm
cho khuyết một góc gỗ vì nước. Mẹ tôi bỏ một lớp củ sả xuống dưới đít nồi, bỏ
con gà lên, rồi một lớp lá chanh ở trên thân con gà. Mẹ đổ nước vô. Bắt đầu bắc
lên bếp. Gà vừa chín. Xôi vừa dậy mùi, mẹ bỏ lá cơm nếp vô cho thơm. Mùi bữa
trưa gã đã đánh mùi được. Gã kêu lên từ dưới miệng giếng, chắc độ khoảng 20 m
“Trời ơi, mùi chi mà thơm khủng khiếp”.
Gã như được tiếp sức. Tiếng vang của giọng gã, tiếng dội vào không gian
giếng, tiếng của cây ròng rọc quay để hốt đất gã đào dưới sâu lên như vang vào
tiếng chó sủa khách lạ. “Chị ơi bán mít không”. “Bán chác gì, thích trái nào
cho trái đó”. Mẹ tôi vốn hay cho người miền xuôi, họ lam lũ hơn nhà nông chúng
tôi. Họ dân chài, đổi cá, đổi muối. Họ thồ hàng bằng xe đạp mà nhìn cái tôi muốn
té bẹp dí.
Dưới
giếng, gã vọng lên. “Đổi cái ấy không em ơi, anh đổi cho”.
Gã
kêu lên. Kéo đất nhanh lên, nghe ẩm rồi. Khoảng chục mét nữa là tới mạch”. Mừng
rơn. Mẹ tôi nói “Thật hả, tôi cứ tưởng chỗ này không có mạch nước”, “ả coi thường
tui quá”. Đống đất trên mặt đất đã chất như một quả đồi. Tôi thích thú với màu
đất mới, màu vàng. Tôi chưa từng thấy đất nào trong vườn nhà mình lại có màu ngọt
vậy. Thôi tính lấy một nắm để dành chơi.
Đến
chiều, đất đen, pha nâu, ướt, mát, mịn. Đất thật kì diệu. “Ở dưới đó đất đẹp ri
à chú Phương”, tôi thích thứ đất này quá, nên quên hết cả sợ hãi chú Phương.
“Nhờ mày mà tao nhớ tao còn có một cái tên đó”. Chú Phương, tên gã. Tôi nói với,
âm thanh vọng xuống đáy giếng rồi dội lại những gì tôi nói theo một giọng khác
“cháu muốn xuống đó chơi”, “dưới này có ma đấy”. Vậy thôi, giọng tôi buồn thiu.
“Nhưng tao có cái này cho mày này”. Nói rồi cha tôi kéo ròng rọc lên. Lần này
trong thùng không phải là đất như những lần trước, là một trái lựu đạn. Chẳng
phải nhà tôi ngoài vườn còn nhiều cái hầm đó sao. Đó là chiến địa một thời. Một
trái lựu đạn chết. Cha tôi cũng biết nó đã điếc. An toàn cho tôi.
Món
quà đó, tôi còn cất giữ như một kỉ niệm. Bao nhiêu người đã chia lìa vì trái lựu
đạn này.
Đêm
đó, tôi mơ tôi xuống đáy giếng, một đường hầm nhỏ, nhưng mát lạnh đưa tôi đến
thế giới khác, cuộc sống khác dưới lòng đất. Đó là những cô gái, chàng trai trẻ
đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất, họ mãi ở lại đó. Tôi chỉ cho họ đi theo con
đường tôi vừa đi, sẽ trở về được, họ nói “nhưng chẳng ai còn nhận ra chúng tôi
nữa”. Sáng, tôi dậy sớm, tôi lên nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào, nơi dãy mộ Vô
Danh. Tôi quỳ gối!
Tôi
không còn sợ chú Phương đào giếng nữa. Vì chú đã nói thật “dưới này có ma đấy”.
Chú thô, chú khùng khùng là tự làm mình đau, chặt cả ngón tay, chú không biết
xưng hô có văn hóa, đúng thứ bậc, chú ăn và đi đứng, uống và ngủ nghỉ như trâu
bò. Nhưng mà chú đã nói thật nên tôi không còn sợ nữa. Con người nói thật thì họ
không đáng sợ. Vì sự thật dù trần trụi đến đâu cũng không đáng sợ.
-
Chú kể cho cháu về những người dưới giếng
đi. Họ nói gì với chú?
-
Có chó nào dưới đó đâu. Tao dọa mày
thôi. Con gái xuống sâu dưới giếng mày ngột không thở được đâu.
-
Chú nói láp.
-
Tao nói láp thì trời đánh.
Hồi
đó, sau món quà là quả lựu đạn câm, sau giấc mơ tôi xuống giếng gặp những chàng
trai cô gái trẻ mặc áo đồ bộ đội, vai đeo palo. Sau những chất vấn tôi hỏi chú
Phương đào giếng, tôi lại nghĩ: Chẳng có chú Phương nào hết. Vẫn là gã đào giếng,
say say, chán đời và yêu đời đều chặt ngón tay đó thôi.
Giờ,
vài chục năm đã qua, tôi không còn là cô bé nữa. Tôi gọi chú Phương. Chẳng có
gã say nào hết. Chú Phương đào giếng.
NHỮNG GÌ CÒN LẠI
1.
Những
phương tiện từng đi, những con đường từng qua
Tôi
đã từng đi bộ đến trường trước khi có xe đạp. Đó là khi tôi học cấp 1. 5 năm đều
đi bộ. Khoảng 04 km. Khoảng cách ấy với một đứa trẻ 6 đến 11 tuổi không phải ngắn.
Mùa thu sương muối, mùa đông rét buốt, mùa xuân mát mẻ, đôi chân trần đến dép tổ
ong. Có lẽ tôi đã quên nhiều thứ cần nhớ.
Cấp
2, tôi có xe đạp.
Cấp
3, xe đạp.
Đại
học, đi bộ. Trọ học ngay bên trường nên không cần xe.
Đi
làm, hon đa.
Và
tôi biết thêm những phương tiện khác, tàu thủy, xe ô tô, tàu hỏa, máy bay.
Phương
tiện nào tôi thích nhất? Đi bay nhanh nhất, nhưng bay cất cánh tai tôi như mốn
tung. Thêm chút nữa muốn bùng, đứt cả dây thần kinh, vỡ cả tĩnh mạch trong tôi.
Đi ô tô thì sao? Về tới nhà phê luôn. Vì một chiếc ghế cho một tư thế để về
nhà, khoảng 30h mới tới nhà.
Tàu
hỏa, kín bưng, thế giới bên ngoài vút như một thước phim nhanh cho người già mắt
đã kèm nhèm nhìn cháu trai thành cháu gái.
Nên,
đi bộ, tôi thích nhất. Nhưng đi bộ chỉ cho quãng đường vừa đủ.
Đi
bộ hồi sinh viên. Đi bộ hồi đi làm, chiều chiều dạo công viên. Đi bộ hồi tiểu học
đi học vẫn tưởng quên mà vẫn nhớ. Sao vậy nhỉ!
Đơn
giản vì đi bộ cho tôi có thể vừa đi vừa chơi. Đi bộ tôi được tự do. Đi bộ chơi
với đám cỏ ven đường. Hái trái nổ màu trắng kết thành chùm ven đường, chơi chán
rồi ăn. Vị nhạt xếch nhưng màu trắng, tròn như một hạt xốp trắng bây giờ. Tuyệt
vời!
Đám
cỏ bên đường, mỗi mùa một thứ hoa. Vườn nhà ai có hoa gì, tôi đều biết. Tôi nhớ
dụ ngôn “dắt ốc sên đi dạo” trong sách “Sức mạnh của tĩnh tâm” quá xá. Khúc đường
nào cô bé hồi đó hay ngó nghiêng, khúc đường nào đi nhanh kẻo nắng. Ôi, tuổi
thơ. Có một ngôi nhà tôi còn nhớ mãi.
Đi
dọc đường làng tôi cũng biết luôn hôm nay nhà ai ăn gì. Chua chua nhút mít, cá
khô rim thơm thơm, mặn mòi, lâu lâu góc bếp nhà ai đó lại có vị ngọt hương thơm
lá chanh của món gà nấu trôi. Bước chân chậm lại, nếu-như-đây-là-mơ-cho-tôi-dừng-thêm-phút-giây-này…
Nhà
ai vườn mít chín bói. Nhà ai vườn chuối có trái chín bói bị tôi vặt trái chín.
Nhà ai từng mất trộm bông hoa đẹp nhất bởi người yêu hoa cũng là kẻ hái hoa.
Chó nhà ai từng bị làm phiền bởi đám học trò quỷ nhỏ trêu chọc chúng. Cún nhà
ai từng được ăn kẹo, thứ kẹo mục mật mía và đậu phộng cô lại thành thỏi kẹo như
viên phấn, gói trong lá chuối hoặc lá bục bục, một thứ lá mà mặt ngửa trơn sạch,
mặt úp toàn bụi như phấn. Nhớ tha thiết!
2.
Những
người bạn từng thân
Mỗi
thời gian tôi có những người bạn thân. Chỉ một thời gian, còn lại họ ở trong kí
ức tôi rồi.
Các
cô bạn hồi cấp 1 tôi quên hết rồi. Hay họ quên tôi không biết.
Cô
bạn hồi cấp 2, nhà cô bạn tên Anh có cây hồng xiêm. Thỉnh thoảng tôi được ăn
ké. Có hôm hai quả chín, quả to bự bị chim nếm trước. Quả nhỏ. Tất nhiên trái
cây, quả nào chim ăn là quả xứng đáng được lựa chọn nhất. Loài chim tinh anh lắm.
Cô bạn nhường tôi quả bự có một góc khuyết chim nếm ấy. Tôi nhớ mãi. Cô bạn ấy
còn có sách tham khảo cho tôi mượn. Tôi thì chẳng có gì ngoài sách giáo khoa cũ
có khi rách bìa của anh chị tôi đã học. Cô bạn tôi cho tôi đi dép bitis, thứ
dép gì mà êm ái như dép tết bẹ chối hồi bé xíu chơi. Tôi nhớ mãi cô bạn tôi,
Hưng Anh.
Cấp
ba, tôi chỉ có một cô bạn thân. Cả lớp dường như tôi chỉ chơi với cổ. Giờ tôi vẫn
nhớ cô ấy như in. Tôi biết cổ cũng nhớ tôi, rất nhiều.
Đại
học tôi có hai cô bạn thân. Hai người đều đã đi làm ở hai tỉnh khác nhau. Tôi ở
nơi khác. Từ khi tốt nghiệp đại học đã 5 năm, chúng tôi chưa gặp lại. Mỗi cô bạn
hồi đại học đều là bạn, là thầy của tôi. Người thì dạy tôi cách hòa đồng, người
khác dạy tôi cách vượt qua khó khăn. Chắc tôi cũng dạy họ vài thứ khi chơi
cùng. Như khả năng một mình không chán. Một mình trò chuyện với những người khổng
lồ muôn thời đại. Những người khổng lồ ấy ở phần 3, “những quyển sách từng đọc”.
3.
Những
quyển sách từng đọc
Cả
thời tiểu học, cấp 2, cấp 3, đại học, hiện tại tôi đều có những quyển sách đã từng
thân.
Những
người bạn từng thân, giờ tôi vẫn thân. Dù ít liên lạc. Trong kí ức tôi họ vẫn
là một phần. Mỗi khi mọi thứ như vượt quá giới hạn, chỉ cần nhớ về họ tôi như
được tiếp thêm năng lượng.
Cũng
vậy, những quyển sách tôi đã đọc, từng yêu giờ vẫn yêu.
Trước
khi vào đại học, tôi chưa biết đến thư viện. Phải, nhưng tôi đã thân báo Thiếu
niên tiền phong, báo Nhi đồng từ nhỏ. Báo nhi đồng, thiếu niên tiền phong được
cấp miễn phí cho trường tiểu học miền núi dì tôi dạy. Dì mang về cho tôi. Dì
chính là cầu nối cho tôi gần tới văn học.
Tôi
đọc say sưa, cùng với việc tuổi thơ đi bộ đi học, lang thang đủ, ngắm đủ, nếm
mùi vị bằng khứu giác cùng trí tưởng tượng đủ để viết. Tôi bắt đầu viết, như thế.
Những
quyển sách đó là “Tuổi thơ dữ dội”, “Dế mèn phưu lưu kí”, “Búp sen xanh”, “…mèo
dạy hải âu bay”, “cánh buồn đỏ thắm”, “Tốt Tô Chan, cô bé bên cửa sổ”, “Cuộc đời
của Pi”. Những quyển sách tuổi thơ mà vào đại học tôi mới được đọc. Không sao,
tôi thêm một lần thơ trẻ.
Nhiều
sách “người lớn” chuyên đặt vấn đề, giải quyết vấn đề đại sự khác, tôi cũng mê,
nhưng chỉ xin bàn sách thơ trẻ. Tôi thích nhất quyển nào? Đó là “chuyện con mèo
dạy hải âu bay”, vì sao ư? Vì hay. Đúng thế, tôi thích điểm nhìn khác biệt của
tác giả, nhân vật chính là con mèo đen nhưng tính cách bên trong, tuyệt vời
sáng ngời ông mặt trời. Con mèo đen tình cảm, con mèo đen giữ lời hứa. Con mèo
đen yêu đồng loài và yêu cả loài là thực phẩm của mình như trứng chim hải âu. Nếu
là con người, anh mèo mun này sẽ là anh chàng da đen, răng trắng. Nếu là người
anh chàng mèo mun này ăn chay trường. Nếu là người, anh chàng da đen này thông
minh. Nếu là người anh chàng da đen này… tuyệt vời như sao trời.
Truyện
hay vì mỗi nhân vật mèo là một kiểu con người. Giáo sư mèo Einstein thông thái,
nhờ ham đọc. Nhà giáo sư Einstein đầy sách. Mỗi khi cần quân sư họ mèo tìm đến
giáo sư. Mỗi lần cần, giáo sư tra từ điển bách khoa. Nhưng… những gì cần thật sự
cần thì, thì không có trong sách. Như, làm thế nào để anh da đen có thể dạy
chim hải âu bay. Khó, hơn, cả, khó, mới, thật, sự, là, khó. Tôi đọc, nhận ra điều,
đó, rất, rõ.
Mèo
dạy chim bay hay, hay ơi là hay, còn vì trứng chim hải âu vỡ từ bên trong. Một
cuộc đời bắt đầu. Mênh mông như khơi xa. Tít tắp. Rồi chú hải âu sẽ tung bay.
Thế là những thủy thủ có thêm bạn. Nếu, nếu trứng hải hâu xấu số gặp anh mèo
mun tâm địa cũng như màu da của ảnh thì, ôi thôi, vỏ trứng vỡ bởi một lực bên
ngoài, và. Và biết bao thủy thủ cô đơn, có thể gặp nạn vì không có hải âu báo
bão. Có thể lắm, định mệnh để chị hải âu mắc váng dầu biểu của tàu tráng dầu lậu
nào đó, chị được gặp anh mèo da đen. Nếu không…
Chi
tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn, phải. Đúng với, Luis nhà văn Chi Lê xa xôi tại Việt
Nam này. Nhà văn một mặt khen ngợi yêu thương thực sự không phải là yêu đồng
loài, mà yêu cả loài khác biệt. Mặt khác, ngài viết văn còn để chỉ rõ thảm họa
hủy diệt đến từ con người. Con người vô tình, cố ý hay cả hai đã đang, sẽ hủy
hoại môi trường sống tự nhiên. Nhanh thôi, họ sẽ hủy hoại môi trường sống, sẽ bức
tử chính mình, gần thì bản thân, xa thì con cháu, xa hơn thì chắt chút chít.
Còn
nữa…
Truyện
ngắn mà đọc hoài, tài thật.
Tất
cả, những con đường, những phương tiện, những người bạn, những người khổng lồ
trong sách… tôi trân trọng. Xin tri ân, những gì còn lại trong tôi sau chừng ấy
thời gian...
THẢ DIỀU
Hồi
còn nhỏ, tôi đã được mẹ dẫn đi thả diều, mẹ nói rằng, người xưa thả diều với ý
nghĩa xua đuổi những rủi ro, bệnh dịch. Mẹ nói, sau dịp tết Thanh minh, người
ta thường thả diều sau khi viết vào cánh diều tên những bệnh dịch nguy hiểm và
thả cho gió đẩy diều bay xa, càng xa càng tốt. Rồi sau đó, người ta cắt dây cho
gió cuốn theo những xủi quẩy, bệnh tật đó đi khỏi vùng dân cư sinh sống. Bằng
cách đó, người dân mong cầu cuộc sống yên bình, khỏe mạnh.
Mẹ
cũng nói ngày xưa, diều còn được dùng để báo tin cho nhau.
Ngày
nay, thả diều là một trò giải trí phổ biến của thiếu nhi trong những ngày gió
mát, nhất là vào cuối xuân, đầu hạ. Vào dịp này, một năm học đã gần kết thúc.
Trước khi vào năm học mới, các em nhỏ được chơi thỏa thích, đủ trò vui. Thả
diều không những là một cách giải trí mà còn thể hiện một nét văn hóa chơi các
trò chơi dân gian.
Những
bậc phụ huynh khi đưa con trẻ đi sắm diều cũng hướng dẫn các em cách chọn con
diều nào có ý nghĩa. Tại quán hàng đồ chơi trẻ em cạnh công viên, tôi chứng
kiến một bà mẹ đã chọn cho con mình con diều có màu sắc lộng lẫy, hình con
bướm. Chú bé vui vẻ: “diều của con sẽ bay cao bay xa nhất”. Người mẹ lại nói:
“chơi về con cũng phải học giỏi để bay cao như diều nhé”. Chú bé rạng ngời đôi
môi mọng đỏ, vài giọt mồ hôi chảy dài trên má chú vì mải mê chọn chọn cho mình
một con diều ưng ý.
Tại
công viên, người họa sĩ già ngồi vẽ. Một bức tranh dở vẽ dáng con diều nghiêng
cánh trước nền trời xanh và mấy chú bé đang néo căng sợi dây. Bức tranh thật
đẹp, màu sắc tươi tắn nhưng sao mặt người họa sĩ già đăm chiêu, vẻ như tiếc
nuối quãng đời tuổi thơ của mỗi người là đẹp nhất, rực rỡ và vô tư nhất nhưng
lại chóng qua. Không ai được mãi là chú nhóc mười một tuổi. Thế nên, quan tâm
đến con trẻ là điều mà các bậc phụ huynh dù có bận rộn công việc đến đâu cũng
nên ưu tiên đặc biệt. Trong đôi mắt của người họa sĩ, tôi đọc được điều đó.
Bên
kia công viên Biên Hùng, một con diều đang gặp nạn, em bé đứng khóc. Mẹ em bảo:
“nó mắc thì con phải làm sao gỡ nó ra chứ, sao lại ngồi khóc”. Và bà mẹ chỉ cho
chú bé cách quay dây để gỡ rối. Bằng cách chỉ bảo và giảng giải, bà mẹ đã dạy
cho con nhỏ của mình cách khắc phục khó khăn khi gặp sự cố trong cuộc sống.
Một
chàng trai ngồi bên ghế đá, phía cuối công viên. Ánh mắt cậu ta đang dõi theo
con diều bay xa nhất. Tôi cũng giống chàng trai này, đi công viên một mình,
ngồi xem các em nhỏ chơi thôi. Tôi bắt chuyện với cậu ta, “sao cậu không đi
cùng ai cho vui”, “sao có vẻ đăm chiêu thế”… Cậu ta gượng cười: “mình đã không
còn bố. Những kí ức còn lại về ông trong mình chỉ còn mang máng hình ảnh ông
cùng mình đi thả diều. Mình nhớ bố mình đã thả con diều giấy của mình bay rất cao,
bố cũng chỉ mình cách điều khiển sợi dây nhưng mình không tài nào làm được. Với
mình, cho đến bây giờ bố vẫn là người thả diều cừ nhất… Ông đã mất vì bệnh ung
thư khi mình còn quá nhỏ” – cậu ngập ngừng nói.
Trước
nay, tôi cứ nghĩ gió mong manh, cánh diều kia mỏng mảnh nhưng đối với một số
người đó là sự hiện hữu của một số người thân khác, tôi nhận ra có những điều
tưởng là mong manh lại rất vững chãi. Như con diều kia đã vững chãi như hình
ảnh người cha trong lòng cậu bạn này vậy.
Một
lúc sau, trời bỗng lặng gió, mấy con diều không cất được mình khỏi mặt đất. Có
cậu bé ngồi khóc, người mẹ dỗ: “con ngoan, con muốn học giỏi phải có sách, có
bút, có cô giáo giỏi và con siêng học… Con diều cũng vậy, muốn bay được phải
chờ trời có gió mới tạo lực đẩy được chứ”. Cậu bé đưa tay gạt hàng nước mắt:
“chỉ tại trời không thả gió”. “Đúng rồi, khi nào các em nhỏ đều ngoan và nghe
lời người lớn thì trời mới thả gió”.
Những
chiều khác, lúc rảnh tôi lại đến công viên xem thả diều. Những con diều đủ kiểu
dáng, màu sắc bay cao bay thấp làm cho bầu trời gần hơn, chỉ cần với tay, như
có thể chạm được nền trời. Đối với những người cha, người mẹ, nhìn các con vui
chơi thỏa thích mỗi ngày lại hiểu thêm ý nghĩa của cuộc sống.
Thả
diều vì vậy không chỉ là trò chơi mà còn cho ta những bài học ý nghĩa.
QUÁN CÓ CÂY TRỨNG CÁ
Đó là một quán nước mía, quán nằm trên đường Đồng
Khởi, cạnh Sở Tài nguyên và Môi trường, thành phố Biên Hòa. Quán nước mía có
cây trứng cá che bóng mát. Cây trứng cá bên quán có dáng nghiêng, đổ về bên mái
quán. Cây cao khoảng bẩy mét, không cao lắm nhưng cũng không đến nỗi thấp. Cơ
bản là nó có tán đủ rợp để che cho khách ngồi hóng mát hàn huyên bạn bè sau
buổi tan ca c ông ty hoặc ngồi chỉ để giải khát. Thêm vào đó, bên cạnh quán, xa
xa dăm mét, cả bên tả, bên hữu đều có những cây xà cừ cổ thụ đổ bóng mát cho
quán thêm phần dễ chịu.
Ngồi dưới quán trứng cá dù sáng hay chiều, dù trời
nắng nóng vẫn cảm nhận được cái mát lành của không khí có nhiều cây quanh cung
cấp ô xi. Tôi thích thú đến quán này không chỉ vì cây trứng cá nhiều quả, có
bóng, mát từ Lão Xà cừ mà còn vì nước mía ở đây thơm ngon hơn những
nơi khác. Thật vậy, quán nhập mía từ miền đất cát xứ Phan về, mía có thân tuy
nhỏ, rắn nhưng ngọt. Chủ quán là một người khéo tay, sạch sẽ. Khéo tay vì nhìn
cách bố trí quán nước thì biết; sạch sẽ cũng vậy. Mỗi ly nước mía ở Cây trứng
cá quán đều có mùi vị đặc trưng là mùi quất. Trên đầu cây mía, chủ quán cho
thêm quả quất để nguyên vỏ vào xay. Mùi quất và vị chua thanh thanh lam cho ly
nước mía thơm, ngon, hấp dẫn, lại có tác dụng trị bệnh ai mà không thích.
Một lý do nữa, có thể là lý do chính đáng nhất khiến
tôi chọn Cây trứng cá vì người chủ quán. Đó là một chàng thanh niên trẻ. Anh
khoảng ba mươi, độc thân. Anh vốn là đứa con mồ côi. Từ miền tây lên thành phố
này bán báo dạo, rồi đi đánh giày, quán Cây trứng cá này chính là “cơ ngơi” của
anh gây dựng nhờ hơn hai mươi năm tích cóp bằng nghề đánh giày và bán báo. Anh
nhỏ con, dáng nhanh, và da đen nhưng đôi mắt nhanh nhẹn và sâu, có lẽ chính tâm
hồn anh cũng chứa những sâu thẳm như vậy, những điều sâu kín.
Khác với những quán nước mía khác chỉ có chiếc xe mía
và mấy cái bàn, ghế, ly… quán Cây trứng cá có “thương hiệu” hẳn hoi và có không
gian đẹp, lịch sự cộng thêm ba nhân viên phục vụ. Ngồi khoảng một tiếng đồng hồ,
cũng hàng trăm khách ra vào. Ai cũng hài lòng vì nước uống và thái độ phục vụ
lịch sự của quán.
Tôi có tình cảm đặc biệt với Cây trứng cá vì tôi yêu
cây trứng cá. Loài quả khi chín có vị ngọt và nhiều hạt ly ti như Trứng Cá này
gợi cho tôi sự liên tưởng, rằng cây trứng cá vẫn xanh tốt, rợp bóng mát và cho
quả ngọt ngay trên bãi đất cằn này chính là sự “hiện thân” của anh chủ quán
nước mía này. Cây trứng cá và anh chủ quán chính là sự “Đồng hiện”?.
Tất cả gợi cho tôi một sự liên tưởng đẹp. Chỉ cần một
sức sống, chỉ cần một ý chí và niềm tin, hoàn cảnh nào cũng có thế khắc phục
được. Cây trứng cá thỉnh thoảng lại rụng quả lộp cộp trên mái quán, mấy đứa trẻ
con trong khu phố thỉnh thoảng lại ra hái quả trứng cá làm cho quán có vẻ đẹp
riêng.
Nếu một lần đến đường Đồng Khởi, Biên Hòa, Đồng Nai,
hãy dừng chân tại Cây trứng cá quán gọi một ly nước mía hoặc sinh tố, nhìn cây
trứng cá rung rinh trong gió để thấy được sự “đồng hiện” dễ thương đó.
Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2019
MỘT CHUYẾN ĐI
Xem nào, sinh viên năm cuối, môn học trở… như mơ của
mọi sinh viên. Ít. Thay vào đó là đi thực tế, đó là kì thực tập sư phạm. Đây rồi,
đó là những vùng đất mới, những ánh nắng khác. Đó là bài luận văn tốt nghiệp.
Đó còn là kì thực tế lớp Nghiệp vụ báo chí. Ừ thì ta hiểu thế nào là khập khiễng.
Khập khiễng không phải là hai chân hai kích thước khác nhau, khiến chủ nhân phải
đặt giày với số đo khác, chiếc độn gót, chiếc thường; mà khập khiễng là thực tế
dạy học, thực tế viết bài không dễ như lí thuyết. Ta, ngộ ra điều gì đó… Nghiệp
vụ chụp ảnh báo chí, kĩ năng phỏng vấn, kĩ năng viết tin, bài. Học thì hay lắm,
hành thì… khác gì nét biểu cảm của người lần đầu thử mù tạt.
Thực tập báo chí, tháng 4. Đèo nước ngọt là điểm đến.
Trên hành trình, thực tập sinh và hướng dẫn viên là giảng viên khoa Du lịch,
kiêm trung tâm nghiệp vụ Bách Khoa hướng dẫn. Hướng dẫn viên kể về tên cướp
trên xe bus. Đại loại, tên cướp nói với hành khách “đưa hết tài sản, tiền bạc,
tư trang cho tên cướp. Ai bà chống đối sẽ bị hiếp. Bỗng một bà già hỏi lại tên
cướp “Chắc không””.
Rồi chơi trò thu gom tất. Mọi người trên xe chia làm
hai đội, đội A và đội B. Mỗi đội cử một đại diện đi gom tất chân của mọi người,
cả đang mang và chưa mang. Đội chiến thắng sẽ bắt phạt đội thua. Cuối cùng đội
thua bị phạt hát.
Bà Rịa! Bà Rịa! Ms. Rịa – vài bạn sinh viên hát lên
câu chế Bà Rịa Bìa Rạ. Mọi người đang được đổi gió nên khoái. Huyện Đất Đỏ là
điểm dừng của đoàn, khu di tích Minh Đạm đám khỉ xấu ăn cướp trên tay du khách
những bịch mía. Mọi người đi leo núi men theo đường lát đá. Tôi ở lại chơi với
lũ khỉ đói. Có con con bám lưng mẹ, rồi bụng mẹ, chúng ôm đầu mẹ khá ngộ. Tôi
thích cách những con khỉ mẹ đi xin ăn cho con. Chúng thấy đoàn khách là lại gần,
hoặc xòe tay xin đồ ăn. Chai nước chúng cũng cầm, uống như thật. Chúng xin được
bánh mì hay mía thì cho con phần nhiều. Tôi cho chúng ăn mía. Chút chán chê
chúng vứt bừa ra vườn bẩn ơi là bẩn.
Mọi người thi nhảy bao bố giữa bờ cát
trước khi xuống tắm. Tôi đã quen với bãi biển Nha Trang, bờ cát dài, sạch. Nước
xanh, tron vắt nên thấy bờ biển, nước biển Bà Rịa là lựa chọn chơi với bờ đá rồi.
Tôi theo bờ đá, một mình. Trước đó đã cướp được của cậu bạn ham bơi chiếc mũ kết
màu vàng nên đỡ nắng.
Miền xanh 15h. Người đi cạy hàu trên dãy đá ven bờ. Người
nữ tầm 40 người nam tầm trên 40. Họ đều bịt kín mặt. Vì du khách có thể chụp
hình họ bất đắc dĩ, hay vì nắng, gió? Có lẽ cả hai nhưng nếu chọn một thì lí do
thứ nhất có vẻ có lí hơn. Vì tận 17h chiều nắng đã ngơi nghỉ, gió thôi vù vù,
sóng thôi ộp oạp vào bờ đá như ngáo ngộp thì họ vẫn không tháo khăn che mặt ra.
Tôi tiến về phía người bắt hàu. Họ là
hai vợ chồng thì phải, vì họ khá giống nhau về dụng cụ hành nghề. Xô sơn, dao cạy
như cái liềm cùn, kiểu nửa vầng trăng, đi bao tay nhựa và áo chống nắng, khẩu
trang loại trùm đầu và kín cổ.
-
Chào chị, chiều
nào chị cũng ra đây bắt rò à?
-
Ừ, hôm nào cũng
bắt.
-
Mỗi ngày chị bắt
được mấy kí?
-
Khoảng 2.
-
Mỗi kí bán bao
nhiêu ạ?
-
Gần 2 trăm.
-
Dạ, bán cho nhà
hàng hả chị?
-
Ừ, cho quán ăn.
-
Dạ!
Khác với người lớn, các cậu bé còn thơ ngây thích được
chụp hình, thích được quay video thì vẫn trần trùi trụi, mặc nắng và dường như
gió và cả sóng chưa bao giờ làm phiền các cậu trai choai choai. Tôi quan sát
các cậu từ xa, rồi gần, rồi đến bên.
Biển vỗ sóng ào ạt. Âm thanh sóng, gió biển ngân lên
dữ dội. Có lẽ vì gió to hay vì đá lớn, sóng dội từ ngoài khơi vào, ập ngay bờ
đá dữ, lại tung ngược trở lại. Và nắng, nắng trên bờ đá, nắng tràn qua con sóng
vần vù, nắng nheo mắt cậu bé mưu sinh.
Cậu bé mưu sinh khoảng 12 tuổi. Công cụ hành nghề của
cậu là cao dao, cái xô nhỏ đựng sò, một cái bì nhỏ. Kiểu bao bì đựng gạo 5
kilogam, được các cậu túm đầu mang theo bên mình.
-
Chào, cho tớ bắt
sò với.
-
Không phải sò
đâu chị, là hàu đấy.
-
Hàu hay hào?
-
Là hàu.
Cậu bé trên tay có hình xăm trái tim có mũi tim
xuyên ngang, thêm chữ màu xanh mực tàu hai chữ “Yêu em”. Tôi chơi với các cậu
bé cả buổi chiều. Cầm dao cạy hàu, sước hết cả tay, chảy cả máu. Đó là con hàu
bám vào đá, những tảng đá to như con trâu, con voi ma mút. Có hòn thì tí hon
nhưng trơn phải biết vì tiếp xúc nhiều hơn với nước. Thủy triều xuống để gia
đình đá ở đây phơi mình khỏa thân như thiếu nữ có thân hình gợi cảm trong ảnh
Dương Quốc Định hay bộ Miền cổ tích của Thái Phiên. Thường, những nữ chính
trong ảnh nude tàng hình trong bộ đồ công sở cứng nhắc, nhưng khi được khoác
lên mình tấm áo da trần thì mọi tấm nhiễu điều đều như thừa, hoặc thô lỗ trước
bức tuyệt phẩm ấy. Tôi chợt nghĩ, bởi vì cơ thể người trần trụi là đẹp nhất,
nên cần áo quần để bình thường hóa, đời thường hóa, nhàm chán hóa vẻ mĩ miều ấy.
Và nắng biển đã hong khô rất nhanh ướt át của những gia đình đá ẩn tàng dưới nước.
Bây giờ, những anh hàu có làn da màu bạc đã tịnh. Tôi dẫm chơi trên đá lúc lâu
mới có người săn hàu ven biển ra hành nghề. Nhưng tôi đâu biết chân tôi đang dẫm
đạp lên thân xác những anh hàu thậm chí cả những anh hàu vừa mới tỏ tình xong.
Chậc cười vì sự khéo khéo ngụy trang của gia đình hàu biển bám đá bờ biển.
Chơi với đám trẻ, đứa thì xuống tắm, đứa thì ném đá,
cậu chăm chỉ có hình xăm trên tay vẫn mải mê cạy, chọt. Tôi theo em.
-
Con này là con
gì em?
-
Con trút.
-
Trút hay trúc?
Em nói lại là trúc. Nhưng phụ đầu là ch hay tr tôi vẫn
không thể nghe được. Khi tôi hỏi là Trúc – gấu trúc à, thì em gật đầu. Đó là
con nhỏ bằng ngón tay cái, ngắn hơn ngón tay cái, dáng hơi giống con tôm tít,
nhưng vỏ màu đen. Con trúc bụng bám chắc vào đá, lấy dao cạy thì bụng rơi khỏi
ra tảng đá.
-
Bắt con trúc về
làm món gì em?
-
Luộc – em nói.
-
Còn con hàu?
-
Cũng luộc, hoặc
nấu canh.
Một
bạn từ dưới bờ biển lên với ngón chân cái, phía dưới bàn chân bị chảy máu.
-
Sao bị chảy máu?
-
Mảnh chai cắt.
-
Em giữ lại vết
thương đi, không chảy máu nhiều.
Nhưng em không biết tự giữ chặt vệt thương cầm máu,
mà để cho máu chảy nhòe cả bàn chân đỏ choét. Tôi hỏi em có đau không, em bảo
không. Thế rồi bạn cõng em về. Tôi nói với “về ngâm rửa lại bằng nước muối khử
trùng nhé”, em nói lại “nước biển có muối rồi mà chị”. Tôi cười trừ.
Các em ham chơi, bắt sò, hàu để chơi là chính, ham
vui với bạn là chủ yếu thì đã cõng bạn về. Còn em có hình xăm trái tim trên tay
phải vẫn cặm cụi cạy từng con hàu. Những thân hàu được tách nửa vỏ ra, em đưa
mũi dao hốt ruột hàu trắng sữa bỏ vào xô con sạch sẽ. Tôi quan sát kĩ, nửa vỏ
còn lại vẫn nằm im trong tảng đá. Có vẻ nơi đây, mai kia thôi lại là nhà của
anh hàu nào đó hoặc nhỏ hoặc to.
-
Em học lớp mấy?
-
Em không đi học.
-
Em mấy tuổi?
-
12.
-
Hàng ngày em làm
gì, ngoài bắt hàu?
-
Đan lưới. Xóm lưới
ven bờ kia.
-
Là loại lưới để
bắt cá ư?
-
Dạ.
-
Em có làm ra được
cả cái lưới trọn vẹn không?
-
Không, em chỉ đập
chì thôi.
-
Đập chì? Có phải
cái cục đen đen, nặng nặng ở đáy lưới giúp cho lưới chìn xuống nước?
-
Dạ, chị cũng biết
thả lưới chứ?
-
Ừ, nhà chị không
gần biển nhưng có hồ.
Tôi nói đùa vài câu về hình xăm
trên tay em, tôi nói cũng phát cười, nhưng em chỉ ngoảnh mặt nơi khác, cười một
mình như che dấu niềm vui.
Tôi theo em cả buổi chiều, rồi em
cười. Vì tôi bị té nằm ôm lấy hòn đá tròn trịnh. Lần đầu tôi thấy răng em. Răng
thỏ, nhưng thay vì chìa ra, đặc biệt thì ngắn củn.
-
Răng em, sao “gập
ghềnh thế kia”.
-
Là em gắn chì đấy
– em lại mìm cười.
-
Là gắn chì vào
đáy lưới ư? Em dùng răng để cắn chì… ư?
-
Dạ.
-
Sao không lấy
cái kềm?
-
Xóm lưới em ai
cũng dùng răng cả.
Tôi nói với em đã từng thấy một xóm
chài lưới, người ta có máy để gắn chì vào lưới.
Tôi hỏi em về những mảnh rành dưới
phía biển. Những rãnh đá và lởm chởm vỏ chai các thứ. Nhìn như một hố rác ngầm
đầy hiểm nguy.
-
Những mảnh vỏ
sành kia là…
Em im lặng. Một cái lắc đầu buồn rầu.
Tôi biết, đó là những bí mật. Biển
rộng lớn nhưng cũng bao dung lắm.
Bài thu hoặc báo chí nhưng tôi đã
viết văn, là một truyện ngắn hay tản văn tôi không chắc nữa. Đây chính là bài
thu hoặc ấy. Nó được điểm trung bình thôi. Nhưng, tôi không buồn. Vì sau này chứng
chỉ nghiệp vụ báo chí của tôi cũng chưa một lần sử dụng. Vì tôi dạy học chứ
không phải là nhà báo.
T.T.T
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
VIẾT CHO EM!
23/1/2024 Mấy năm rồi tôi không viết blog. Vì tôi viết Em. Giờ em đã 4y6m tôi cảm thấy nên dành cho Em những con chữ. Nên tôi lại viết. Tôi...
-
Viết chưa xong Đã cuối năm học. Chiều nay trường không còn học phụ đạo. Học sinh và giáo viên chỉ lên lớp buổi sáng. Buổi chiều nghỉ. Mọi...
-
23/1/2024 Mấy năm rồi tôi không viết blog. Vì tôi viết Em. Giờ em đã 4y6m tôi cảm thấy nên dành cho Em những con chữ. Nên tôi lại viết. Tôi...