Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

PHÚT YẾU LÒNG




PHÚT YẾU LÒNG
Bà ngồi trong nhà nhìn ra ngõ, trước vườn là cây bưởi. Mùa này bưởi đã nhẵn vỏ, quả to bằng quả ổi. Bà nhớ, con bé Lan nhà bên mới đi học Hà Nội về sang xin nhặt hoa bưởi gội đầu mà giờ quả đã to thế kia. Bà lại tủm tỉm tự nói với mình như những người già sắp lẩm cẩm khác: “tổ cha cái con Lan, để tóc chi dài rứa. Răng không cắt đi cho đỡ vướng. Ngày xưa tóc tao cũng dài rứa, nhưng từ khi lấy chồng bao việc đều đến tay tao mới cắt đi chứ”. Trên cái nhánh chụm ba là tổ chim Chiền Chiện – một loài chim nhỏ thó, lông màu vàng vàng, cái mỏ cũng hơi vàng, bàng bạc hay màu nâu bà cũng không rõ lắm. Chỉ biết là loài chim này dại. Dại hay nó ngu bà cũng không biết. Bà chỉ biết là nó đi nuôi con của kẻ đã ăn thịt con mình khi chúng còn trong trứng nước. Biết đâu không phải nó dại cũng chẳng phải nó ngu si gì mà nó là giống chim có nhân có nghĩa, có lòng có dạ thì sao. Bà lẩm bẩm: “tổ cha nó, chim với cò cũng có giống bạc như đời”.
***
          Chiền Chiện là loài chim siêng năng và tình nghĩa. Dù biết con chim vừa nở ra trong tổ không phải là con của mình nhưng nó vẫn chăm bẵm rất tử tế và đầy tình thương. Một thứ tình yêu thương như cốt tủy, máu mủ. Một sự chăm bẵm ngọt ngào nhất trong mọi sự ngọt ngào mà những người cha người mẹ có thể dành cho con cái mình. Sáng tinh mơ nghe tiếng chí chóe của bầy con trong tổ chúng đã biết bú mớm cho con để nó khỏi kêu, bị kẻ săn mồi khác phát hiện thì khó bảo toàn tính mạng. Thế nên con của chúng chẳng bị đói bao giờ. Chiền Chiện mẹ không lớn bằng ba ngón tay đàn ông chụm lại, có giỏi thì bằng ba ngón tay đàn bà chụm vào nhau, chỉ nhích nhích hơn quả cau bà hay ăn trầu một tí, thế mà sau bao ngày ấp ủ, cái trứng trong tổ của nó nở ra con chim con to… bằng cả hai vợ chồng chim bố mẹ gộp lại. Nó cũng nghi ngờ, nhưng có thể nào thế, có thể nào cái trứng của nó bị kẻ khác đánh cắp đi và lén đẻ vào đó cái khác. Dòng này là giống gì mà to và xấu xí thế. Họ nhà mình nhỏ con nhưng rất nhanh nhẹn, sao con mình sinh ra lại ù ù cạc cạc như loài vịt trời thế này. Thế này thì làm sao bắt sâu mà sinh tồn được. Nó tự nghĩ nhưng rồi trẫn tĩnh lại được.
          Nó lại mổ mổ vào dầu con chim con như dặn dò gì đó rồi bay đi. Lúc sau, nó bay về với cái mỏ đầy ắp, có lẽ trong đó là thức ăn, là con sâu lá rau ngót – nhất định thế, bà vừa thấy nó lủi lủi trong cụm rau ngót có màu xanh xanh kia. Nó nhanh thiệt, bà vừa thấy đó, tưởng đang mắc đâu trong lùm rau ngót chưa tìm ra chỗ toát, ai dè nó bay về tới tổ rồi. Con chim con như ngửi thấy mùi tanh của thức ăn la lên làm cho nhành cây nhà nó ở rung rung như sắp đổ. Được mồi, chim con hết la và chỉ còn nghe tiếng lí nhí trong miệng nó, có lẽ đang đòi thêm miếng khác. Nhưng chỉ mới một con có mồi, những con khác vẫn la lên như ganh tị đòi ăn. Một lát sau hai con chim bố và chim mẹ đều mang về cho chúng những con sâu rõ to. Nhìn tổ chim hàng ngày trước cửa làm bà lại liên tưởng đến cháu bà. Người con trai duy nhất của bà là bộ đội, quanh năm suốt tháng đi biệt phía biên giới. Đời lính biên phòng cũng tội, cưới vợ về chưa được hưởng trọn chăm ấm, chiếu êm đã đi biệt. Làm vợ lính cũng nào sung sướng gì hơn, tiếng là chồng sĩ quan nhưng có được ở bên chồng bao nhiêu ngày, chỉ có đếm trên đầu ngón tay: thì là ngày cưới hai tuần, rồi đến tết, còn lại là thui thủi, dẫu đau ốm cũng nằm mà nhớ mà mong có chồng bên cạnh để làm nũng nhưng nào có. Tủi cũng bằng thừa, khóc cũng thế thôi.
Chị vợ anh cũng thuộc dạng có nết có na. Bà con ai cũng khen nhà bà có phúc có được người con dâu hiếu. Nhưng cũng được hai năm đầu, sau đó con trai bà cũng không chuyển được đơn vị, thế là chị dang dở một đời. Có chồng mà như không, có người trẻ trong làng còn tưởng chị là chị lỡ con gái bà. Rồi chị cũng sinh được cho bà đứa cháu trai kháu khỉnh. Mới sinh, ai cũng bảo nó giống cha nó như đúc, làm bà cũng mừng nhưng mỗi lúc ai đó bàn tán về nét mặt nó giống cha nó ở điểm nào chị lại cúi mặt như trốn tránh điều gì đó. Lớn lên thì người ta không nói con chị giống bố nữa, người ta nói:
-         Bị nhà ai quai nhà nấy.
Từ khi biết cu Tí không phải là con mình chồng chị cũng không về năm một vài lần như trước nữa, có chăng là lúc bà ốm. Chị cũng chẳng trách ai, chỉ trách cái số mình như vậy. Bà là mẹ chồng nhưng cũng chẳng cay nghiệt gì với mẹ con chị, bù lại bà xem cu Tí như cháu ruột bà.
Đến năm cu Tí học lớp một, một sáng đi học về, chưa kịp chào bà cu cậu đã chạy ngay đến bên mẹ phân bua:
-         Thằng Tú bảo ông hoạn lợn cuối làng là cha con. Ứ phải đâu, cha con đẹp trai kia. Cha con là bộ đội. Sao lâu rồi cha không về hả mẹ.
-         Được rồi. Con vào thay đồ đi.
Chị nhìn đứa con trào nước mắt. Bà ở trong nhà nghe lời thoại của cháu cũng đắng lòng. Bà cố lảng ra sau vườn cà bắt sâu để trốn thằng cháu vì bà biết kiểu gì nó cũng bảo bà gọi cha về cho nó. Lúc này bà cố cúi tìm sâu, nhặt cỏ cho vườn cà nhưng tay bà đã cầm cả một nắm hoa cà, bà đâu phân biệt được hoa hay sâu đâu. Cũng như trong lòng bà lúc này không biết đâu là con là cháu mình, bà chỉ biết là hai mẹ con nó đã gắn với đời bà những ngày tháng cô đơn nhất. Bà cũng biết lòng dạ người đàn bà. Họ vốn rất thương chồng và thủy chung nhưng không phải mọi lúc. Đời bà cũng lấy chồng bộ đội, bà cũng biết lắm chứ. Nhưng bà đã chôn vùi tuổi xuân trong cái thủy chung ấy, để đến nay bà hiểu được lòng con dâu hơn mọi tai tiếng xấu xa. Bà biết trong lòng người đàn bà xa chồng cảm thấy ra sao. Bà biết những đêm dài nó hành hạ người đàn bà xuân xanh thiếu đàn ông thế nào. Nhiều lúc, trong đêm khuya bà biết có sự chuyển động nhưng bà đành lòng. Chịu đói thì khổ nhưng không khó; chịu rét thì khổ và khó nhưng còn có thể khi người ta thiếp đi; còn chịu thiếu hơi đàn ông quá lâu thì cái xuân xanh trong sâu kín người đàn bà bình thường là khó khăn hơn cả. Là người đàn bà đã chết ngẹt trong cái khát khao ấy bà hiểu con dâu hơn ai hết. Thế nên bà luôn yêu thương nó như con cái, dù người ngoài chẳng xem nó ra gì. Dù con trai bà có xỉ vả chị đến ruồng bỏ và đòi tống cổ chị ra khỏi nhà hơn hai lần thì bà vẫn là người năn nỉ cho chị ở cùng bà, cho bà còn có cu Tí mà khuây khỏa tuổi già. Chị biết đi đâu. Chị cũng đâu thay lòng đổi dạ với anh, chỉ có điều chị là đàn bà, người đàn bà bình thường có sinh lí và khao khát đời thường. Điều không phải của chị là một lần trong đêm khuya chị đã quá thèm chồng vì nhịn nguyên năm trời rồi bị con ma dục vọng đưa đường dẫn lỗi. Chị đâu nghĩ sẽ phản bội anh, chị chỉ đi theo tiếng gọi của chính bản năng, chính cảm giác thèm khát đang thiêu đốt, thôi thúc, dày xéo chị thôi. Đêm đó chị đã đến căn lều của người đàn ông làm nghề hoạn lợn đơn độc cuối làng, trong sự sợ hãi của ông ta chị chỉ biết cầu xin. Người đàn ông đã quen với sự trơ trụi nay lại được một người đàn bà vừa mời mọc vừa van xin, cái gì đó là lạ, tươi mới như hồi trai trẻ lại thức dậy trong lòng ông. Không biết may mắn hay vô phúc cho chị cái lần duy nhất ấy, cu Tí hoài thai.
          Càng ngày nhìn cu Tí càng lớn và càng giống người đàn ông độc thân duy nhất cuối làng. Người mà mỗi khi chuồng lợn nhà nào hễ nghe éc một cái rõ dài rồi thôi, người ta lại thấy ông ta với hai tay bê bết máu cầm cục thịt như hai quả cà pháo bước ra từ chuồng rồi rửa tay qua loa không cần cả xà phòng ấy. Người mà cầm hai cục thịt trăng trắng trong tay, dơ dơ lên như khoe, miệng nở nụ cười méo mó với câu nói muôn thuở: “Về làm xị đã” ấy chính là cha cu Tí. Thực ra, chồng chị cũng không giận chị nhiều về việc chị vụng trộm, nhưng anh ta không chấp nhận chị lại đi đĩ thỏa cả với người người đàn ông hoạn lợn kia. Người chỉ biết vui với hai cái cục thịt trăng trắng, bàng bạc của cái giống nòi loài vật bị thiến đi. Anh không chấp nhận được điều sỉ nhục đó. Anh đâu biết trong đêm duy nhất ấy, chị đã cần anh như thế nào. Chị đâu thể vào nhà nào đó, gõ cửa nhà người ta rồi mời gọi hay xin xỏ được thỏa mãn. Chị chỉ biết đi thẳng đến cái lều cuối làng, nơi người đàn ông ấy ngủ chẳng mắc màn bao giờ vá lúc nào cũng mặc mỗi cái quần xả lỏn vào mùa hè (chị đã nghe người ta kể vậy. Và quả đúng không sai). Chị chỉ biết có một lần người đàn bà trong chị đã đưa chi đến một nơi làm cho chị thành kẻ bội tình, bạc nghĩa; thành người đàn bà hư hỏng đĩ thõa. Chị đâu có muốn. Chị chỉ là nạn nhân của một con ma dục vọng điều khiển chị trong đêm mưa gió mà thôi. Giá như đêm đó anh ở bên cạnh chị. Bao lần chị đã ước. Chị chưa một lần van xin anh tha thứ, vì chị biết chị chưa hề có ý phản bội anh cũng như lòng chị chưa bao giờ bội bạc với anh. Đêm đó chỉ là phút xao lòng. Lòng người không phải là lí trí có thể nói không với bất cứ khát khao nào. Hơn nữa lúc đó chị chỉ có một cách: hoặc là đi đến cuối làng, hoặc là đi tìm anh. Nếu chị đã đi tìm anh đêm đó, biết đâu tấm thân trắng ngà mơn mởn của gái xa chồng đã thành miếng mồi béo bở cho hổ đói. Đường lên đồn biên phòng của anh phải qua một khu rừng già với những con suối và lắm đèo. Chị cũng không biết cả công việc và nơi chốn cụ thể của anh, anh chỉ nói: “Công việc của anh em không được biết, sẽ nguy hiểm”. Sao anh chẳng bao giờ hiểu cho chị. Chị nghĩ, đàn ông sinh ra từ sao hỏa, còn đàn bà sinh ra từ sao kim. Hai hành tinh khác nhau sao hiểu được nhau, nói chi đến những thầm kín trong góc khuất sâu thẳm, xa xăm và mênh mông, vô thường bất định, vô biên vô hình nhất của cõi siêu hình ấy… Sao anh hiểu được chị cơ chứ, chỉ có mẹ anh là hiểu chị thôi. Nhưng bà cũng không làm cho anh hiểu được lòng của hai người đàn bà. Chỉ có hai người đàn bà hiểu được lòng nhau, nhưng họ chẳng giúp được cho nhau vì cái mà người này cần người kia lại không có. Đời có những nghịch cảnh đến trớ trêu.
Tổ chim Chiền Chiện ngoài vườn đã lớn, chim con đang tập bay, chúng vỗ vỗ đôi cánh cụt nhìn ngồ ngộ. Bà nhìn nó lớn hàng ngày. Chim Chiền Chiện mẹ và bố vẫn thay nhau đi kiếm ăn cho mấy con O hếu kia. Giờ nó đủ lông đủ cánh thì Chiền Chiện mới ngộ ra đó là loài O hếu – một loài chim nổi tiếng bội bạc chuyên đi phá hoại. Chúng tìm tổ loài chiền chiện khờ khạo và trọng nghĩa, nút trứng của nó, gắp vỏ bỏ ra ngoài tổ rồi đẻ trứng nó vào đó. Sau đó, khi biết con đã đủ lông đủ cánh thì đến mang con đi. Nhưng có kế hoặc nào là hoàn hảo đâu. Lũ con của chúng đã quen với bố mẹ nhỏ bé của nó và cứ nghĩ vì cha mẹ chúng đã vất vả kiếm mồi nuôi chúng trưởng thành nên nhỏ bé thế kia. Nào phải giống nhau đã là ruột thịt đâu. Thế là cuộc ẩu đả diễn ra. Trong ngày chim con trưởng thành tung cánh bay đi vào bầu trời rộng lớn, chim O hếu mẹ đến đòi con, năn nỉ thất lạc con nay đã tìm thấy. Nhưng chiền chiện cũng không khờ đến mức bị lừa gạt dễ dàng, chúng bâu vào đàn con, đòi quyền làm cha làm mẹ chính đáng. Thế là loài O hếu đành thất thế, mất con vì bội bạc. Những con chim O hếu con đã to lớn gấp năm, bảy lần bố mẹ chiền chiện của chúng. Chúng đã biết trong cuộc sông có những cuộc chiến, đôi khi cần phải tỉnh táo. Cha mẹ chúng có thể không phải là người đẻ ra chúng những người nuôi nấng, dưỡng dục chúng và cho chúng sự sống thì đích thị là cha mẹ chúng.         
 ***
Đã 11h trưa, nghe tiếng dép cu Tí chạy ngoài sân vào bà biết cháu bà đang về. Bà thấy mặt mũi nó không giống con trai bà thật nhưng tính cách nó thì giống bà và mẹ nó. Lúc nhất là cách nó chăm sóc bà và mẹ. Nó luôn dành những miếng ngon nhất cho bà, người mà nó gọi Nội mỗi hôm có món ngon. Nó bảo: “mẹ con bảo bà già rồi, phải ăn món mềm, ngon thế này mới ở được lâu với chúng con”, cu Tí vừa nói vừa dâng bát cháo cho bà mà mẹ nó vừa làm xong từ bếp. Bà bảo: “Rồi, cháu ngoan, hai bà cháu ăn chung”. Nó bảo: “thế cha cháu mà về thì cho cha ăn chung với mẹ hả bà”. Hai người đàn bà nhìn nhau, lặng quay mặt đi như cố dấu hai đôi mắt đang nhòe nước. Có một đôi mắt vẫn tròn veo không hiểu: “sao bỗng nhiên bà và mẹ buồn thế”. Ngoài cổng có tiếng chó sủa…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

VIẾT CHO EM!

 23/1/2024 Mấy năm rồi tôi không viết blog. Vì tôi viết Em. Giờ em đã 4y6m tôi cảm thấy nên dành cho Em những con chữ. Nên tôi lại viết. Tôi...