NỤ HỒNG KHÔNG BUNG CÁNH
Đồng Đà lắm gái thuyền quyên
Trai anh hùng đã xuôi thuyền viễn chinh…
Làng có tên là Đồng Đà, cái tên hơi lạ, nhưng nó có ý nghĩa. Nó nhắc
đến tên của người khai sáng ra làng là cụ Đà ở xóm Đà cũ (không phải Đà giang).
Làng độc một cái ngã ba là trung tâm của mọi chuyện. Hơn hai mươi năm
trước, và cho đến bây giờ ngã ba làng là nơi “họp báo” cũng là nơi “điểm báo”
đồng thời là nơi “xuất bản” những bài phóng sự, tin nhanh, cả trang văn nghệ,
giải trí và châm biếm đủ kiểu. Gã là một “biên tập viên” kiêm “kí giả” săn tin
đại tài. Chuyện làng trên xóm dưới gã biết nhanh như chớp và kể lại trọn vẹn,
lỡ đoạn nào không trọn vẹn thì chính gã là người làm cho câu chuyện được “mười
phân vẹn mười”.
Làng, có chị được gọi là Nụ Hồng, nhưng là nụ hồng Không Bung Cánh.
Không bung cánh vì sao thì cũng chẳng ai biết. Phải chăng vì nụ hồng chưa tìm
được chiếc bình nào đủ xinh để xứng với vẻ đẹp kiêu sa của những cánh hoa hồng
phớt nhẹ nhàng kiêu sa?.
Người ta gọi chị là Nụ Hồng
Nhưng là Nụ Hồng Không Bung Cánh…
Chuyện về chị ở làng Đồng Đà thì ai cũng biết, nhất là sắc đẹp và câu
chuyện tình lâm ly có màu sắc hiện thực, nhưng là hiện thực lãng mạn. Chị xinh
đẹp như… Phải dùng dấu ba chấm để suy nghĩ thêm vì người kể chuyện không biết
nên lấy gì để so sánh với sắc đẹp của chị. Thôi thì chị xinh như nụ hồng xinh
vậy. Da chị trắng như củ sắn mới bóc ra. Má chị cười duyên như được bà mụ trước
khi nặn đã đặt lên đó những nụ hồng hỏn hẻn, lấp ló. Khi chị bước đi, bước dưới
thấp mà người như được nâng lên. Chị đi mà nhìn từ xa cứ ngỡ bay. Đôi tay
chị trắng nõn nà. Sau lớp vải áo voan
mỏng hơi chật từ miền Nam gửi về của một người bà con, chị là “thuốc bổ mắt”
cho trai gái, già trẻ làng Đồng Đà này.
Gã mê chị. Mê đắm, mê mệt, nhưng chỉ phần gã thôi, còn chị vẫn là Nụ
Hồng Không Bung Cánh.
Gã nói rằng chỉ cần nhìn thấy chị, dẫu cho ngày có mệt mỏi và buồn tẻ
đến đâu thì hôm đó gã cũng ngủ ngon và huýt sáo cả ngày.
Gã nói rằng chỉ cần nhìn thấy nụ cười và dáng đi của chị, gã đủ no dù
chỉ uống nước lã hít khí trời mà sống.
Gã nói rằng gã thương chị như những ánh nắng ấp áp yêu những bình minh.
Gã nhìn chị như ánh hoàng hôn lập lòe trên đỉnh núi chiếu xuống mặt đất
quyến luyến những khoảnh khắc tàn của ngày đang tàn.
Gã nói cả đời này, chỉ cần nhắc tới chị là đủ yêu thương trong gã tới
tận kiếp sau.
Chị vẫn một mình với cái sắc nước hương trời của mình. Trang tuyệt sắc
vẫn đứng một mình giữa đám trúc xinh của làng phần lớn đã nên rặng trúc xanh.
Nhiều người dạm hỏi nhưng chị không ưng. Người ta cũng không biết chị
còn chờ đợi ai, chờ đợi cái gì. Chỉ biết rằng chị ít tiếp khách và hay cười
trừ. Người thích chị cũng đáp lễ bằng nụ cười như nắng mai ấy, người không
thích chị cũng cười khiến người ta cứ ngỡ chị có tình ý gì với mình. Nhưng
không phải, ngay trong khi chị buồn xo thì nụ cười của chị vẫn đầy tình ý, thế
mới đểu chứ.
Thế mới có chuyện…
***
Gã chưa bao giờ ra khỏi làng Đồng Đà. Nhưng gã nói chuyện cả bên Tây,
bên Tàu như gã định cư đâu đó bên tây bên tàu chỉ ghé ngang làng Đồng Đà để kể
chuyện vậy. Gã nói về chuyện chính trị - xã hội của Trung Quốc hồi cải tổ. Rằng
kinh tế tư nhân với nhà nước gì gì đó. Rằng nhiều tư tưởng tiến bộ có chủ
trương làm kinh tế tư nhân bị nhà nước buộc giải tán gì gì đó. Và gã bình luận
như triết gia “tiến bộ thì bao giờ cũng là chính nó”. Gã còn ví dụ rành rành
cải cách với đổi mới gì gì đó nữa. Gã ví như thật rằng dao cùn đem mài là cải
tiến, còn chế máy móc thì đó là đổi mới gì gì đó. Rồi gã phán, rằng cuối cùng,
cho đến nay thì tư nhân vẫn song hành thậm chí chỗ đứng vững chãi như cây bao
báp ngoài Trường Sa. Gã thật giỏi tưởng tượng. Tôi biết thừa gã chẳng biết cây
bao báp nó hình thù thế nào ngoài cái tên bao báp gợi sự cứng cỏi.
Gã nói đến chuyện chị. Với gã, bao giờ và luôn luôn, cứ nhắc đến chị là
đi liền với từ em. Gã chẳng nói nhiều, gã chỉ nói đi nói lại một câu: “hồi
sáng/ tối/ trưa/ qua/ kia/ nay… em Oanh cười với Lượm tình tứ ghê” (Oanh là tên
chị). Chị cười bao giờ cũng thế, nụ cười như chào đón, như hứa hẹn gì đó, dù
lòng chị buồn xo. Bao kẻ ngộ nhận tình cảm của chị, bao ả kêu chị rành dụ trai
cũng chỉ vì nụ cười ấy.
Làng có đến chục gã trai trẻ, trai lớn, trai già tòm tem chị, có kẻ kêu
“không lấy được chị cũng chẳng lấy ai khác”, kẻ thì nói “không lấy cũng được,
nhìn thấy em ấy là quên cả thế gian còn đàn bà con gái rồi”. Vậy mà chị chưa
kịp nhận lời, họ đã đi lập gia đình rồi.
Mấy gã trai ưa hứa hẹn chỉ như mấy cái nón lá, gió chưa thổi đã tự
nghiêng ra sau gáy con gái rồi. May có cái quai nón, không thì bị gió thổi đi
hết bờ này tới bụi nọ chưa biết chừng.
Chỉ có gã thủy chung thương chị?
Chị vẫn lạnh lùng với gã như với bất kì trai làng nào khác.
Gã vẫn trồng cây si. Nhưng có chăng chị nở một nụ cười xã giao rồi
thôi. Với trai làng, chị đẹp còn vì chị là một nữ đồng trinh, một loài trinh
nữ. Hễ có ai động vào thì khép lại. Khép chặt chỉ khi bình yêu, gió lặng trinh
nữ mới lại xòe cánh đón nắng sương.
Gã ngộ nhận về nụ cười đó.
Gã bảo chị có tình ý với mình.
Chỉ là…
Chỉ là chị chưa nhận lời thôi….
***
Tôi đi xa rồi lại trở về làng.
Gã cũng đi. Gã đi ở rể bên làng Tiền.
Cũng tại ngã ba làng, tôi được nghe nhiều chuyện nhưng tôi chỉ ngẩn ngơ
với chuyện của chị.
Lại nói gã, gã ngộ nhận nụ cười của chị đầy tình ý với mình. Rồi gã phá
hoại sự bình yên của chị. Nhiều lần chị từ chối từ khéo léo đến nói thẳng, gã
vẫn cố tình không hiểu, cố tình trách chị “thế ra, nụ cười bấy lâu em vẫn dành
cho anh là giả ư?. Em đạo đức giả quá…”. Chị chẳng nói lại được gì. Chỉ gém nụ
cười vào trong mà nó vẫn tự nhoẻn ra, gã bảo “em thật tàn nhẫn, cười cợt cả
tình yêu, cả sự hy vọng cả hạnh phúc của anh. Em sẽ phải trả giá”.
Năm đó chị và gã đều đã không còn trẻ. Họ đã ngoài ba mươi, cái tuổi
đáng để lo bề gia thất. Chị vẫn chối gã, thẳng thừng.
Lý do chị chối từ nhiều lời dạm hỏi của đàn ông, trong đó có gã là:
không có lý do gì cả.
Gã mang tâm trạng hậm hực bị lừa tình đó ra hành động.
Gã, cũng tại ngã ba làng rêu rao rằng: chị là con cái mang giống đực.
Cái thời của hơn hai mươi năm trước, đó là điều ghê gớm và bất hạnh cùng cực.
Từ đó, người làng nhìn chị bằng cái nhìn khinh thị.
Chị thôi, không nở nụ cười tỏa nắng bao giờ nữa.
Hàng ngày chị vấn may áo, may quần. Vẫn tiếng máy may xập xình hàng
ngày và về đêm thì nó kêu to hơn, khuya hơn thông thường. Trai làng trên xóm
dưới cũng chẳng màng đến nét đẹp và nết đẹp vẫn roi rói của chị. Người ta sợ
điều mơ hồ gì đó.
Chuyện gã đi ở rể được nửa năm rồi về. Nghe bảo, vợ gã chê gã yếu quá…
lại thêm cái tật nói nhiều hơn cả mấy bà bán gà bán vịt ngoài chợ…
***
Rồi chị đi khỏi làng khoảng 5 tháng. Mẹ chị bảo chị ra Hà Nội học may
áo dài thêm. Chị trở về vào một đêm mùa đông lạnh sương mờ phủ. Chị khoác chiếc
áo măng tô vải dạ dày, dài. Ngày hôm sau chị đi ngang ngã ba làng vẫn với chiếc
áo dạ dài ấy. Bước đi của chị, nhìn từ xa đã thấy có sự nặng nề, có sự chậm
chạp. Cơ thể thon gọn của chị đã được thay bằng sự đẫy đà.
Cơn gió thổi từ đâu tới, ai cũng cảm nhận được hơi lạnh, nhưng không ai
kêu lạnh.
Chị đi đến ngã ba, vẫn cười chào mọi người. Có cái gì đó như thách
thức, như khiêu khích tất cả. Ai cũng nhận ra, cái bụng của chị đang mang một
tình yêu lớn đã ngoài năm tháng.
Trớ trêu cho một trang tuyệt sắc.
Gã vẫn ngồi đó, nhưng khác với cái mồm luyên thuyên từ trước. Gã lặng
im. Mọi ánh mắt từ đổ dồn về chị chuyển sang gã.
Hôm sau, tại ngã ba làng người ta không còn thấy gã nữa. Nghe bảo gã đi
khỏi làng đêm đó, nhưng chẳng ai biết gã đi đâu.
Thu đó, đám lá bàng từ cây bàng cụt ngọn đổ lá vàng tạo ra cả một lớp
xác lá dưới mặt đất. Không ai đến ngã ba để hóng chuyện, tán dóc nữa. Đầu mùa
xuân năm tới, người làng chặt đi cây bàng cụt ngọn. Cây bàng cụt gợi buồn như
những chuyện tình chưa hồi kết của trai gái làng. Cây bằng lăng nhỏ xíu bên
cạnh đã lớn, không bị cây bàng che tán rợp nên lớn rất nhanh. Chẳng mấy chốc
nữa là ra hoa tím ngát cả trung tâm làng cho coi.
Chị cũng đi khỏi làng sau đó.
Mùa hè sau, chị trở về khi đứa con trai kháu khỉnh, trắng trẻo, khỏe
mạnh đã cứng cáp. Tất nhiên, chị trẻ ra như hồi mười tám đôi mươi từng làm đám
trai trẻ khiến cả làng mất ngủ vì tiếng chó sủa rào rạo cả làng vì trai đến nhà
chị.
Và người đàn ông đi cùng chị, bế con
cho chị là người đáng cho chị gửi gắm cả cuộc đời mình. Mọi người đã hiểu, Nụ
Hồng Đã chịu Bung Cánh vì đã tìm được một chiếc bình tương xứng.
Trời đã sang hè, vầng mây trên cao
cũng như cao hơn, xanh hơn pha lẫn màu trắng tuyệt đẹp. Mây như mắt gái một
con, vừa xanh trong vừa rợp bóng đủ ấm áp cho ai được nhìn vào đó. Chị trở lại,
cây bằng lăng mùa hoa đầu tiên nở cánh hoa đầu tiên vào sáng sớm hôm sau. Màu
tím thắm đã thay thế cho màu vàng rủa của những đám lá bàng xơ xác, cứng cáp,
khô khan. Cây bàng cụt bị chặt đi, như mang theo cả những mảnh tình dang dở của
trai gái làng Đồng Đà. Ngã ba làng lại tiếp nối bằng những câu chuyện tình
khác, chắc gì đã không tím ngát như cánh bằng lăng kia?.
Có người nói Nụ Hồng mãi Không Bung Cánh. Vì nó đã hóa thành cánh bằng
lăng nở tím. Lại có người nói Nụ Hồng đã Bung Cánh vì nó đã tìm được Chiếc Bình
Bông tương xứng.
***
Thu vẫn thu và em vẫn xanh
Bằng lăng trở gió lạnh tím trời
Người đi người lại về bên ấy
Chung với em cười xinh nụ xinh
Đám trẻ nít vẫn đọc những câu thơ đó khi thấy chị để mong nhận được nụ
cười của chị. Người ta bảo đó là thơ của gã làm tặng chị…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét