Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

CỎ CHÁY


CỎ CHÁY
1.     Màu cỏ cháy
Vòng ngoài sân bay quân sự tỉnh là bãi cỏ, tự nhiên bốc cháy.
Từ khung cửa sổ thư viện nhìn ra, anh thấy đám cỏ cháy vàng vọt, bạc như màu đất đỏ phía sân bay quân sự. Không gian rộng lớn ấy được bao quanh bởi những đám cỏ cháy, từng bãi. Mới đầu mùa khô đã xảy ra hỏa hoạn rồi. Là cỏ cháy nắng bén hay bốc lửa rồi cháy, không ai biết. Lúc hỏa hoạn, anh còn đứng trên cửa sổ lầu hai của thư viện nhìn xuống.
Ngày xưa, từng trận càn, từng trận đánh cũng ngút khói như vậy. Nhưng thôi, kí ức chỉ buồn nên anh tự nhủ “quên mẹ nó đi”. Ừ thì quên mẹ nó đi, anh quay vào phòng đọc. Tờ báo ruột anh thích còn mới tinh, giấy cứng còn thẳng tăm trên bàn. Những trang giấy trắng, cứng, phẳng tưởng vô hồn nhưng lại ghi lại được biết bao cảnh đời cảnh người, tựa như thân thể anh kia, phong trần, từng trải từ kiểu tóc nghệ sĩ đến đôi mắt lạnh, như đã được thử thách, trải nghiệm qua đủ thứ thật, giả, hay dở, tốt xấu, hạnh phúc khổ đau, ngọt ngào tan nát, được mất...
Từng là nạn nhân của chiến tranh, cuộc chiến cướp đi toàn bộ những người anh yêu quý. Lẽ nào anh lại phải bước vào cuộc chiến mới khi vết thương cũ còn chưa khô máu? Khác nào như vết thương hoại tử ở bắp chân anh ở trận 30 tháng 4 trước ngày giải phóng anh bị một miếng dăm của đạn ăn phải?. Rồi mổ đi mổ lại, miệng vết thương vừa khô tưởng lành lại nhiễu nước, lại thối, lại đục, lại khoét lại cấy thịt, bạng từng bạng, miếng từng miếng thịt cắt ở vai, rồi phía mông… nhưng chẳng ăn nhằm gì. Vừa khô miệng vết thương lại hở ra, nhảy nước vàng, có mùi. Tất nhiên là mùi khó ưa.
Anh cố nhưng tìm một sự thể hiện tương đồng, như cành củi khô “củi một cành khô lạc mấy dòng” Huy Cận tìm thấy sự thể hiện tương đồng về cảnh ngộ, thân phận mình với cành củi. Anh cũng tìm nhưng chưa tìm được điều gì có thể ví được. Tâm hồn chai sạn, mòn mỏi và mất mát không thể bù được, tổn thương không thể hàn gắn được bởi cuộc chiến tàn khốc mấy mươi năm trước. Cụt thì cụt hẳn cho rồi. Cứ cố giờ mưa nhức, nắng đau, đụng tê… Như một con hủi, anh nghĩ. Cuộc chiến, sẽ như vết sẹo đã khô khốc, đã in những vết khâu chân rết với hơn hai mươi mũi khâu kia, bị mổ ra và khâu lại. Như cánh đồng bị cày xới. Như… anh không biết lấy gì để so sánh. Màu da đen, nhăn nhăn có chỗ lại căng và cứng, trơ trơ ra, chỗ lồi chỗ lõm phía chân, với những đường may nham nhở…
Anh thấy mình cũng như màu cỏ cháy, vàng vọt trong ánh mắt, vàng vọt trong cuộc đời, vàng vọt trong kí ức vàng vọt…
Còn gì đau bằng nỗi đau bị cắt từng miếng thịt trên cơ thể mình để cấy lên chỗ khác cũng trên cơ thể chính mình. Càng cay đắng hơn, xót xa hơn khi chính cơ thể mình lại không nhận thịt cấy của chính mình. Có vẻ như chỗ thịt bị cấy còn lạ với chỗ cơ thể mới được cấy. Sự xa lạ nào cũng cần mất một khoảng thời gian làm quen, thích nghi. Chiến tranh, rồi thì mất mát. Ngày anh đi anh là một công dân yêu nước, là người con, là người chồng trẻ. Anh về sau cuộc chiến thắng lợi, những thứ đó mất tất, chỉ còn lại bàn thờ không một tấm di ảnh, không một mùi nhang trừ những cùi nhang ngắn củn, khô khốc, chỉ có những tờ giấy chứng tử rỉ máu thời gian. Màu máu rớm trên từng nét chữ: “Liệt sĩ Đỗ Nhạc… Hy sinh… Liệt sĩ Đỗ Nghĩa… Hy sinh… Liệt sĩ…” mắt anh nhòe đi trên nét chữ ghi tên vợ mình. Nàng còn chưa hưởng trọn đêm tân hôn mà. Chiến tranh là kẻ khát máu hay sao mà uống nhiều máu thế. Chiến tranh là để lại hòa bình hay những hồn ma chưa có chỗ nương náu?.
Đời anh, từ đó như đời cỏ cháy, còn chăng là đám tro mà đám thì bay tung lên trời, đám thì bám vào đất mẹ, đám thì lửng lơ, rồi mất hút.
Đôi chân ấy, trên cơ thể người trai trẻ thân cao hơn mét tám, cân nặng lúc sụt cân nhất, cũng trên 70 kg. Mọi đường nét trên cơ thể anh như một tặng phẩm, đẹp từ trong ra ngoài, trên xuống dưới. Cả cái ruy băng gói quà và cái nơ cài thêm cũng đẹp nốt. Anh đẹp từ khuôn mặt, dáng người, làn da đến giọng nói. Cái cười nhếc mép thôi cũng đủ cho bao đám nữ nhi mất ngủ tơ tưởng. Vậy mà cuộc chiến chỉ để lại trong lòng anh nỗi cay đắng. Cay đắng mất cả mẹ, cha lẫn người em trai. Cô vợ xinh đẹp của anh cũng chỉ giữ lại được hình ảnh cô trong trí nhớ. Mà theo năm tháng kí ức về người phụ nữ anh yêu thương tha thiết ấy nào đã còn lưu mãi được. Mà có lưu mãi thì nàng cũng đâu sống lại được. Nên anh mãi là kẻ bơ vơ. Bơ vơ như xác cỏ cháy. Rồi cả sự hình hài cũng thành tro bụi.
2. Mùi cỏ cháy
Sân bay quân sự tỉnh nằm ngay thư viện, mà đúng ra là thư viện nằm ngay sân bay quân sự. Mỗi khi có máy bay lên y như có chiến sự. Rù… rào… mất hút trong bầu không gian hỗn hợp. Đọc sách cái nỗi gì nơi không gian nặng mùi cỏ cháy ấy. May anh chỉ còn một tai, nên tiếng động cơ vút lên cũng chẳng mấy ồn ào.
Đi thư viện về anh lại lầm rầm: cái thời nào như thời này, nơi đọc sách còn vắng hơn cả đêm ma trơi. Người đọc sách hiếm hơn cả kiếm một con cá trong cái hồ cạn nước chỉ còn bùn nhoẹt, nhão. Khó tìm hình ảnh so sánh quá. Và lạ lùng thay, thư viện cả tỉnh chỉ có một cái, mà còn vắng bóng người đọc. Nhân viên thì hàng chục chục. Họ phục vụ ai?. Còn quán café, chỉ một con hẻm cũng có ít nhất ba quán cóc, đầu hẻm, giữa rồi cuối hẻm. Người người café, nhà nhà café. Phải chăng thư viện cũng là nơi để người ta làm phép thử, để tính một tuần, xòe mười đầu ngón tay ra để tính lượt độc giả ghé thư viện, có khớp không?. Hay còn dư một bàn tay?.
Mùi đời, mùi người, anh cảm nhận có cái gì đó cay cay lẫn thơm thơm, có khi lại chua chua, khi lại khét lẹt như mùi cỏ cháy. Và mùi kí ức anh cũng khét lẹt như vậy. Trận đánh mà da thịt đồng đội cháy sém và bốc khói. Trận đánh ấy, anh còn nhớ rõ mùi chết chóc. Mùi cỏ cháy mà không hẳn là cỏ cháy. Là những da, những thịt, những lông những tóc đang cháy. Tất nhiên mùi cỏ cháy còn ghê hơn bội lần màu cỏ cháy.
Trận đánh mà sách lịch sử ghi ta giành thắng lợi hoàn toàn, bắn hạ bao nhiêu máy bay, bắt được bao nhiêu tên địch… nhưng nào có biết những đồng đội mình đã đổ máu nhuộm đỏ cả miền đất đỏ. Cũng như học sinh khi học bài thơ của nhà thơ nào đó, lúc tuổi đời nhà thơ còn trẻ cho là làm được như thế là hay, là bậc thiên tài. Nào có biết đó là lao động. Một thứ lao động nghệ thuật thực sự. Còn nghiệt ngã hơn lao động chân tay cực nhọc khác. Học sinh biết nhà thơ là người nghệ sĩ thiên tài. Đâu biết để có một bài thơ hay, một dòng thơ thậm chí chỉ một từ hay, thi nhân đã vứt đi hàng trăm hàng ngàn ý thơ, câu thơ, bài thơ dở. Đó thực là lao động nhọc nhằn hơn chúng ta biết. Chiến tranh cũng vậy. Và chiến tranh, bên thắng bên thua đều phải đổ máu. Đổ nhiều máu.
Đời anh không chỉ có màu cỏ cháy, mà còn mang mùi cỏ cháy.
Tháng 5, tình hình chính trị cũng mang mùi cỏ cháy.
Quan hệ Việt – Trung tháng nắng căng như đám cỏ cháy kia. Bốc mùi quá. Anh trộm nghĩ, nếu là ngang sức, ngang tài tay đôi kiểu Trung – Mỹ thì chẳng nói. Hấp dẫn. Đằng này Việt – Trung, kém hấp dẫn quá. Chỉ tội con cá bé. Chỉ tởm tay cá lớn. So sánh về diện tích, về dân số… sơ sơ vậy thôi cũng đủ thấy mùi cỏ cháy và màu cỏ cháy trong cái chế độ cầm quyền, chế độ gì gì đó mang tên Chi – na.
Đâu phải có đám cháy mới có mùi cháy. Đâu phải có đám cháy mới thấy màu cháy. Màu cháy, chết chóc, vàng vọt. Mùi cháy, khét lẹt có ở khắp nơi.
Vụ Biển đông, Hoàng sa, Trường sa, chỉ cần ra quán café là biết tuốt. Ông cụ ngồi bên ly café cạn đến giọt cuối cùng, còn tráng cả bã café nhạt phếch, nói: “cái thằng Tàu khựa bỏ mẹ, nó chỉ dám ăn hiếp Việt nam thôi, chứ qua mà cà khịa với Mỹ với Nga”. Đến đám nhóc con, tan học chờ ba mẹ đón ngồi uống nước mía, cổ còn đeo khăn quàng đỏ cũng Biển Đông “Ba tao nói á, con cháu cụ Hồ mà mất Biển Đông là lớp học của bọn mình cũng thành chiến trường, học sinh tụi mình cũng thành bộ đội cả đấy”. Một nhóc ngồi bên, ly sinh tố còn dở nói: “Biết đâu thành anh hùng”. Nhóc khác nói: “Anh hùng là gì, ê mày giải thích cho tao?”. “Thì… thì anh hùng là biết cầm súng và bắn giỏi đó. Cô giáo chẳng dạy thế sao?”. Người đàn ông trung niên ngồi bên bắt chuyện: “vậy mẹ của các nhóc sẽ là những siêu nhân, à quên… siêu… anh hùng chứ!!!”.
Mấy đứa nhóc chẳng hiểu mô tê gì, chỉ cười phá lên. Một nhóc không cười, không khóc, nói: “mẹ con thì sợ súng lắm”. Con mà chơi game Đột kích thế nào cũng bị mẹ oánh cho, vì… mẹ sợ trúng đạn. Người chủ quán nước, là anh thanh niên trẻ đẹp trai, hỏi mấy nhóc: “Thế có ai đó vào nhà của mấy nhóc, đuổi các nhóc đi và nói đây là nhà của tao”. Mấy nhóc tính sao?. Bỏ chạy thì an toàn. Đánh nó thì có thể bị đánh lại. Làm sao giờ?. “Đánh chết mẹ nó ấy chứ, con cún nhà em hiền thế mà cún hàng xóm qua nó còn xù lông lên cắn gãy cổ. Rồi hôm sau nó sang nhà chó hàng xóm đó, ị bậy vào cả chỗ chó nhà hàng xóm ấy hay tè đánh dấu lãnh thổ nữa mà…”. Mấy tiếng vỗ tay đôm đốp từ phía các “bô lão” và bậc trung niên, lẫn đàn anh. Cảm thấy bớt lo, vì tư thế sẵn sàng đã ăn vào tận từng hơi thở đến lời nói của cả những đứa nhỏ. Tiếng khen lẫn cái gật đầu của mấy “bô lão” “đúng là hậu sinh khả úy”. Một người đứng lên bắt tay cậu nhóc vừa phát biểu. Và người chủ quán café bảo: “anh bao mấy em chầu giải khát này”. Phần thưởng nhỏ cho tinh thần ưu việt.
Quay lại tình hình chính trị một chút.
Cả chục ngày nay, tình hình Biển đông Việt – Trung căng như dây đàn. Con cháu cụ Hồ với những khẩu hiệu không chỉ lan truyền trên mạng xã hội, mà còn tới từng tổ khu phố, từng cái loa phát thanh đầu hẻm, từng hơi thở của mỗi công dân:
- “Đánh, đánh, còn cái lai quần cũng đánh” rồi thì “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” - Người Việt Nam nào chẳng yêu nước. Nhưng có cách nào để ít đổ máu dân đen hơn không?. Sợ cái mùi cỏ cháy và màu cỏ cháy lắm rồi, anh thầm nghĩ vậy. Anh chau mày, chỉ là phép thử thôi mà. Nhưng nghiệt ngã lắm.
Mọi thứ trên đời này đều là phép thử. Giờ thì anh tin điều đó là đúng. Tình yêu thử lòng chung thủy. Đàn bà thử đàn ông. Lửa thử vàng…
Bao người đàn bà, con gái đã yêu anh. Họ hứa thế này, thế nọ. Nhưng lặng lẽ hoặc tìm lý do này lí do khác để bỏ anh khi biết sự thật đắng cay về khả năng đàn ông của anh. Có một thứ chất mang tên chất độc màu da cam. Anh gọi thứ chất độc màu cỏ cháy. Cha anh, từng là lính rada quân chủng có quân hàm xanh. Màu cỏ cháy thời lửa cháy khiến cha anh mất đi khả năng mà tạo hóa công bằng với mọi người đàn ông. Khả năng làm cha của những đứa con. May mà ông cụ còn có anh trước khi là lính rada. Mùi cỏ cháy khét khẹt trong trái tim anh. Vượt qua cả khứu giác, len vào tận từng hơi anh thở. Đời lính thử khả năng cô độc của anh sao?. Phép thử ác nghiệt. Mầm bệnh mang tên Chất độc màu da cam, cướp đi khả năng mà người đàn ông bình thường nào cũng có. Khả năng làm cha. Điều tồi tệ là anh không may mắn như cha anh, còn có được một sự tái sinh mới, là anh.
Gia đình là phép thử hạnh phúc. Nhà trường là phép thử của giáo dục. Còn chiến tranh. Chiến tranh, không hơn không kém là phép thử của chết chóc. Mà rút cục của phép thử ấy, là chết chóc. Không hơn không kém. Không hơn không kém phép thử của đổ máu là máu đổ nhiều hơn.
Ủng hộ chiến tranh ư? Muốn chết thì chết mẹ nó bằng thuốc chuột hay lá ngón đi, cần mẹ gì kéo cả bầy đàn chết theo. Đến chết cũng cần thử, xem chết nó thế nào hay sao.
3. Tình cỏ cháy?
Anh ở Biên Hòa, hàng ngày vẫn miệt mài với công việc viết lách. Như một cách để tâm sự sự đời khi mà nói với hàng xóm, hàng xóm không hiểu. Nói với thánh thần thánh thần chỉ im re. Chỉ còn cách nói với hàng trăm người, chắc có kẻ cùng cảnh ngộ hiểu. Anh tìm đến văn chương vì thiếu tri kỉ. Không vì cái bả hư danh như phường danh lợi nhiều như rươi vẫn háo.
Anh sống trong khu xóm nổi trên sông Đồng Nai, con sông mà anh từng tỏ tình với một cô gái kiểu như Chí phèo mời mọc thị Nở: “hay là đằng ấy về ở với tớ một nhà cho vui”, anh tỏ tình: “hay là mình tặng nhau một chuyến du lịch bằng xuồng bông em?”. Cô gái anh thương mới đáp lại: “xuồng bông, có phải là vừa có xuồng vừa có bông thì gọi xuồng bông?”. Anh nói: “xuồng bông là xuồng đưa người từ Sài Gòn về Đồng Nai, trên dòng sông này đó em”. “Vậy khi muốn từ Đồng Nai về Sài Gòn, có xuồng bông đưa em nữa không?”. “Thuyền bông chỉ đưa một lần thôi em, nhưng nếu em muốn, anh có thể cõng em qua sông. Và anh sẽ nguyện làm lái đò suốt đời tận tụy chở khách em, em có bằng lòng làm lái phụ cho anh, khi anh mệt? Em có bằng lòng tuyển thêm cho anh hai nhân viên, nếu được sẽ là một trai, một gái?”.
Cô gái, chỉ thích chu du thôi, chứ cũng chẳng ham muốn gì cái chỗ ở mà nổi không hẳn nổi, đất liền càng không phải đất liền đó. Một nửa ở trên cạn, một nửa dưới nước. Lại còn nghe đến cái chức trách lái phụ, rồi còn một trai một gái làm cô muốn chuồn. Và cô chuồng thẳng.
Chỉ có vợ anh, là thật lòng với anh. Nhưng mà cô ấy đã tan ra như xác cỏ cháy.
Từ đó anh cảm nhận tận cùng cái mùi khét trong tận trái tim anh, không chỉ bằng thị giác, khứu giác và còn cả bằng vòng tuần hoàn máu giác. Có cái giác quan này, anh chắc chắn.
Thứ 5, anh có việc phải đến tòa soạn một tờ báo văn nghệ Bình Dương, tận Thủ Dầu Một, gần ba mươi kilomet, chiếc xe 67 không độ lại đã rã rời kiểu “chân rã rời quay cuồng chi được nữa”([1]) chạy ồ ồ, thay vì tiếng ống bô kêu e e dễ thương thì phành phạch. Tiếng bô làm anh nhớ tiếng gào của phòng làm việc đơn vị cũ. Tiếng sóng biển rì rì rào rào. Còn khi lên dốc thì tiếng bô lại giống tiếng lùng địch… tiếng đạn và tiếng bom của trận đánh lịch sử mà cả đoàn chỉ mình anh sống sót ấy. Hãi hùng. Anh cút chiếc xe về chỗ cũ như tay chơi cút một con ả cave rẻ tiền làm tình chưa đầy 60 giây đồng hồ, ngay bên góc khuất bụi hoa râm bụt ven đường, bằng cửa là phéc mơ tuya quần hộp hơi rộng đáy. Tất nhiên cô ả chưa kịp nghe được sự chuyển động phía dưới. Tưởng là nó vẫn chưa vào. Còn gã tay chơi thì chỉ một, hai, ba, ba nhát vào ra, xong một cuộc trao đổi giống đực, cái giá bèo hơn cả cái bánh xèo 325. Rẻ hơn vì giá cuộc mua bán bản năng chỉ có 49 nghìn đồng, còn bánh xèo 325 đến trăm tiền.
So sánh vậy thôi, biết trúng ai. Mà trúng kẻ nào kẻ ấy chịu. Đời khối kẻ tưởng bâng quơ mà trúng tim đen.
Quốc bộ một đoạn mỏi dò, anh đón xe bus đi. Sáng ngày 14 tháng 5, trời ơi cái gì thế kia. Dòng từng dòng người nào xe ga, xe số, xe côn… Nào những thanh niên già trẻ, nào con nít và có người không biết nên xếp vào lớp nào. Nào mũ áo cái dài cái ngắn, cái cởi ra đội đầu, nào cờ đỏ sao vàng cờ to cờ nhỏ, nào xe thì đội nón bảo hiểm xe thì không. Nào xe thì tải ba, nào xe tải một cũng không nổi phải dắt bộ vì hết xăng hay thủng lốp. Lướt qua những hàng khẩu hiệu biểu tình, từ cửa kính xe bus bị kẹt và qua cái kính cận nặng độ, anh đọc thấy: “Người Trung quốc cút khỏi Việt nam”, “Không xài hàng Trung quốc”… Rồi tiếng người hô hào: “Trung quốc cút khỏi Hoàng sa, Trường sa”. “Bọn Tàu khựa cút xéo về nước”, rồi “Tôi yêu Việt nam”. Trên xe bus, gã tài xế tóc đổi màu, trạc tuổi anh lắc đầu: “từ sáng tới giờ”. – “Tôi cũng theo dõi thời sự, biển đông chẳng được yên bao giờ. Nhất là ngày 1 tháng 5 năm 2014, Trung quốc đã hạ đặt giàn khoan HD981 cùng hơn 80 tàu có vũ trang, tàu quân sự và máy bay hộ tống đi vào sâu tới 80 hải lý trong thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế của Việt nam. Có thể gọi đó là “sự kiện ngày 1-5” gây phẫn nộ sâu sắc triệu triệu tấm lòng con dân đất Việt. Ngày 11 tháng 5 nhân dân Việt nam đã xuống đường phản đối hành vi bất hợp pháp của Trung quốc ở khu vực biển đảo Tổ quốc. Liên tục những cuộc biểu tình những ngày tiếp theo, của nhiều tầng lớp.
Tiếng nói leo, không chủ vị, không vai vế của tay lơ xe tóc vàng. Nhưng cũng có lý, anh nghĩ. Cậu lơ xe choai choai nói: Công nhân đang ăn theo Trung quốc đấy, nhà máy mà đóng cửa thì về quê đi cày thuê. Đến nước lọc cũng chẳng có mà uống chứ đừng nói sữa cho con.
Một gái già hết thời ngồi cạnh anh, xe bus mà ả cứ tưởng như buồng riêng. Ả lấy gương, phấn, son mà quét quét, kiểu này sẽ thành một hình ảnh đả kích trong truyện mới của anh, kiểu: Những bà Phó đoan thời @ chẳng hạn.
Ả chạm tay vào tay anh, “cho em xin số phone đi” kèm cái cười lẳng. Anh nói: “tui sợ mùi cỏ cháy, màu cỏ cháy, tình cỏ cháy và đời cỏ cháy lắm lắm”. Ả im lặng, tưởng anh bị khùng nên nhìn anh một dọc, từ trên đỉnh đầu đến tận đôi dép cao su dưới chân. Anh nghe mùi khét từ cái phanh xe gấp của bánh cao su xe bus.
4. Đời cỏ cháy
Ngày 16 tháng 5 anh lại lên Biên Hòa, “gác kiếm” bến sông anh chải chuốt bằng quần tây lên phố. Phố thị lại cảnh như cũ, đoàn từng đoàn công nhân trong khu công nghiệp 1 rồi từ đâu đó khu công nghiệp 2 kéo qua. Từng dòng người áo đỏ sao vàng trước ngực, tay cầm cờ đỏ hoặc cờ đỏ buộc sau xe, trước xe tùy lá cờ cỡ to, cỡ nhỏ…
Họ đứng trước nhà máy ghi bằng chữ Tàu, hô hào… Anh không chen vào, nhưng từ xa anh nghe được tiếng người chủ Trung quốc, nói bằng giọng và tiếng Việt, chậm, sai ngữ điệu và thanh điệu: “Chúng tôi không phải nhà cầm quyền Trung Hoa, chúng tôi không làm chính trị. Chúng tôi đến Việt nam các bạn, làm kinh tế, sống cùng các bạn hai mươi năm rồi. Lòng chúng tôi các bạn hiểu rõ mà…
Đám đông tự rã.
Anh nhớ đến dải cù lao. Anh nhớ đợt giỗ Tổ rồi anh qua chùa Ông. Rồi anh thôi bâng quơ, thôi mông lung. Ba mẹ đã nằm lại cùng mảnh đất miền tuyến lửa, kí ức họ trong anh còn lại là tiếng bom, là khói bay mù và mùi đạn… Những dãy xương rồng miền cát trắng…
Nhớ đến đó anh nhói đau ở đầu. Trên trán anh vẫn là vết đạn lõm vào. Vết đạn không đủ hiểm để đưa anh đi gặp cha mẹ anh nhưng làm cơ thể, nhất là đầu anh như cái máy dự báo thời tiết. Cả cái chân với vết sẹo chân rết cũng tê tái… tất cả khiến có lúc anh cảm nhận, đời mình cũng hơn gì đám cỏ, chỉ là nó sẽ cháy vào lúc nào. Chợt anh nhớ đến truyện dài Và khi tro bụi của Đoàn Vị Thượng. Anh cười khẩy, đoán biết nụ cười ấy có nghĩa gì quả khó.
Buổi chiều anh bỏ phố, bỏ những đoàn công nhân biểu tình, bỏ cả sự quan tâm tới hàng ngàn học sinh xếp đội hình chào cờ hình bản đồ đất nước, thêm hai quần đảo lớn. Anh đến phòng tạp chí. Phòng đọc báo, ngày báo ra, tờ Văn nghệ già, rút cuộc chẳng thấy. Anh biết tỏng nó nằm trên bàn trực vị nào đó nhân viên thư viện. Anh nói khẩy “đánh vần chưa thạo hay sao mà đọc chậm thế. Báo ra cũ rồi vẫn chưa chưng lên cho người ta đọc”.
Rồi anh rời phòng tạp chí, lên phòng đọc.
Anh chậm chạp leo lên lầu ba, thêm một lầu nữa để đọc sách. Trang sách anh gấp nếp vẫn nguyên, trang 133 truyện Thời xa vắng, đoạn có nội dung Giang Minh Sài trở về sau chiến tranh, và anh ta quyết định quan trọng cho cuộc đời, cho hạnh phúc của mình. Ly dị Hương. Rồi anh ta đến với Châu, người anh yêu bằng tất cả tình yêu của một người lính từng chứng kiến bao cái chết. Anh không sợ, chỉ sợ sống với người không yêu. Bi kịch là vậy. Phải làm chồng người không có chút tình cảm, mà càng gần càng xa, khoảng cách càng khó lấp đầy.
Tiếng xe chữa cháy vẫn réo phía dưới. Công an, dân phòng, bộ đội… Đám cháy ngọn cao đến tận đỉnh nhà gác của sân bay quân sự tỉnh. Anh mặc kệ. Đội phòng cháy chữa cháy thì không phải, “xuống đường” chỉ thêm rối. Với khu vực cấm, vô sao được mà vô.
Đời cỏ vậy là đã cháy rụi còn lại mùi cỏ cháy.
Đời Giang Minh Sài coi như hết, khi anh đến với Châu bằng tình yêu và hơn cả tình yêu, nhưng nhận về ki kịch.
Trở lại với trang sách.
Đọc đến đoạn trước đó, cu Sài bị ép hôn lúc 10 tuổi anh đã khóc. Anh khóc vì chuyện mình đã đành, còn khóc vì chuyện bạn thân, cũng là người đồng đội. Là Quân, Quân yêu rồi cưới vợ. Được vài ngày rồi lên đường chiến đấu cùng anh. Cũng ngả xuống trận 30 tháng 4 lịch sử ấy. Con trai anh, chẳng hề biết mặt cha đã đành, anh chết mà không biết rằng mình còn có một cuộc sống khác nữa. Ở con trai anh. Vợ anh đặt tên con là tên chồng, Quân, Lê Anh Quân. Chị nói, để nó sống thêm một cuộc đời cho cha nó.
Anh vẫn dán mặt vào trang sách, mà không đọc được chữ nào. Lúc đó, kẻng thư viện reo báo hết giờ phục vụ. Anh cầm quyển Thời xa vắng bỏ lại ngay ngắn chỗ đã lấy. Góc khuyết trên giá sách còn chờ đợi điều gì đó. Có ai đọc thời xa vắng nữa không? Bọn trẻ giờ đọc tiểu thuyết Quỳnh Giao. Chúng đọc Mark Levy. Chúng đọc những bài viết trên mạng. Đủ để cười chút, cảm chút, khóc chút rồi quên dài. Thời xa vắng, có mấy người hoài cổ thương thế hệ đáng thương vừa đáng trọng lại đáng khinh như đời anh cu Sài. Đời anh cũng nào được như thế. Cháy hết mình cho cuộc chiến. Cho chiến thắng để nhận nhận về cho mình sự thất bại.
Anh bước xuống bãi cháy phía sân bay, đám cháy đã bị khống chế hoàn toàn. Mùi khói cháy vẫn cay xè. Anh thấy không tiếc, không thương. Không buồn, không vui. Anh nhớ điều gì đó thời đồng đội anh…
Anh nhận mình là kẻ hoài cổ.
Hình như những người hoài cổ đều cô đơn. Như những con sóng trôi vào bờ rồi bị đập ra.
Cái thời của những chàng trai gan vững hơn vàng. Đạn bom không biết sợ, mà biết sợ một nụ cười một ánh mắt tình của người đàn bà. Anh cũng vậy. Tiếng đạn vẫn dong xe thả dốc để vận chuyển bom ra chiến trường mà sao anh sợ tiếng đàn bà trong đêm quá.
Đời cỏ thế là đã cháy hết mình. Và khi tro bụi trở về với tro bụi.
          Về đám đông đứng kẹt cầu Hóa An, một người đang cởi áo quần bơi ra xa từ chiếc xuồng. Một người đàn bà đứng trên cầu hốt hoảng nói như bóng “rõ ràng tôi thấy anh ta nhảy xuống”. Dòng từng dòng người hiếu kì đứng trên cầu nhìn xuống dòng nước đang chảy dốc. Một người vừa nhảy xuống sông. Ý nghĩa cuộc sống là gì, nếu buộc người vừa nhảy cầu kia trả lời câu hỏi vô duyên đó, chắc anh ta sẽ nói: Ý nghĩa cuộc sống, thực ra là tôi không tìm ra ý nghĩa cuộc sống.
          Anh trở về căn nhà nổi trên xóm chài. Sóng từ đâu đẩy mái cái nhà thuyền của anh dạt về một góc. Cô độc, biệt lập. Thằng nhóc lều bên tíu tít chạy sang khoe: “Bác Bàng, bác Bàng ơi, cháu có giấy gọi nhập ngũ…”. Anh cầm tờ giấy, Họ tên Trần Chiến Thắng, sinh năm 1995. Nó còn chưa bằng tuổi mình hồi mình đi đánh Mỹ. Mùi cỏ cháy thốc từ phía nào tới mũi anh, khét lẹt. Anh buột miệng, “Hay là tao cùng đi với mày?”, thằng nhóc láu táu: “đi thi đại học Quân sự á bác. Cháu bỏ thi, đi bộ đội thôi”. Hả, thằng nhóc nói hơi nhỏ hay tiếng sóng hòa với tiếng gió nơi sông nước làm loãng âm thanh, vỡ những trọng âm khiến anh nghe không rõ. Anh hỏi lại như lão Khốt “Hả, mày vừa nói gì nhóc?”. Thằng nhóc nói, nhưng tiếng gió vút làm anh lại nghe tiếng được tiếng mất. Ngại hỏi nữa nên im hẳn. Anh nghĩ đến một cuộc đọ chơi sau một trận đánh mệt lả, vì miếng ăn mà sởn gai ốc. Nhóm lính trẻ thách nhau, đứa nào lặn sông lâu nhất sẽ được thưởng một tô đường. Đói, khát thèm đủ thứ. Phần thưởng quá hời, cả một tô đường đen ngọt lừ khiến anh háu thắng. Và anh đã lặn sâu nhất, lâu nhất. Anh dành được tô đường mía nhưng đổi lại, tai phải anh sau tiếng nổ bùng cái, đầu óc anh choáng váng. Từ đó anh chỉ còn nghe được bằng tai phải.
          “Tôi lẩm cẩm mấy rồi”. Anh lầm rầm cùng hồi ức buồn của mình. Trong đầu anh cứ lặp đi lặp lại một hình ảnh, mà anh không dám nói ra, đúng hơn là chưa dám kể lại hình ảnh ấy cho ai.
          Hình ảnh ấy, rùng rợn hơn cả đêm ma trơi. Hình ảnh đêm cuối cùng trận đánh lịch sử ấy. Đến chết, anh chỉ mong đừng phải mang theo hình ảnh ấy xuống mồ. Vì kí ức ấy, đến gần 40 năm anh không một lần ghé qua chiến khu D. Mùi cỏ cháy đang đặc quánh trong chiếc mũi cực thính của anh. Từ khi thính giác anh chỉ còn một nửa, khứu giác anh trở nên tinh tế bội phần. Mùi cỏ cháy, len vào tận gió biển gió sông trên xóm sông, giờ thủy triều lên.
         



















[1]  Thơ Vũ Hoàng Chương.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

VIẾT CHO EM!

 23/1/2024 Mấy năm rồi tôi không viết blog. Vì tôi viết Em. Giờ em đã 4y6m tôi cảm thấy nên dành cho Em những con chữ. Nên tôi lại viết. Tôi...